Bài 8. Mô hình động học phân tử chất khí trang 34, 35, 36 Vật Lí 12 Kết nối tri thức
Khi học môn Khoa học tự nhiên ở lớp 6, các em đã biết một số tính chất đặc biệt của chất ở thể khí so với chất ở thể lỏng và thể rắn. Tại sao chất ở thể khí lại có một số tính chất vật lí khác chính chất đó ở các thể khác?
Câu hỏi tr 34 CHMĐ
Vận dụng Mô hình động học phân tử để giải thích. Sự khác biệt về tính chất vật lí giữa thể khí, thể lỏng và thể rắn xuất phát từ ba yếu tố cốt lõi: khoảng cách giữa các phân tử, lực tương tác giữa chúng và đặc điểm chuyển động của các phân tử.
Để giải thích tại sao chất ở thể khí lại có những tính chất vật lí khác biệt hoàn toàn so với thể lỏng và thể rắn (như dễ nén, không có hình dạng và thể tích xác định, dễ khuếch tán), chúng ta phân tích dựa trên mô hình động học phân tử như sau:
Hình minh họa: Sự khác biệt về sắp xếp và chuyển động phân tử trong 3 thể của chất
Sự khác biệt được cụ thể hóa qua bảng so sánh sau:
| Đặc điểm | Thể Rắn | Thể Lỏng | Thể Khí |
|---|---|---|---|
| Khoảng cách phân tử | Rất gần nhau | Gần nhau | Rất xa nhau |
| Lực tương tác | Rất mạnh | Trung bình | Rất yếu (có thể bỏ qua) |
| Chuyển động | Dao động quanh vị trí cân bằng cố định | Dao động quanh vị trí cân bằng có thể di chuyển | Chuyển động hỗn loạn, tự do, không ngừng |
Kết luận: Chính vì các phân tử khí ở rất xa nhau và lực tương tác rất yếu, nên chúng không bị ràng buộc vào một vị trí hay một cấu trúc nào. Điều này dẫn đến các tính chất đặc trưng của thể khí:
- Không có hình dạng và thể tích xác định: Các phân tử khí tự do di chuyển chiếm toàn bộ thể tích của bình chứa.
- Dễ nén: Do khoảng cách giữa các phân tử rất lớn, khi ta tác dụng áp suất, các phân tử dễ dàng bị đẩy lại gần nhau hơn.
- Khuếch tán nhanh: Do chuyển động hỗn loạn với tốc độ lớn và lực cản tương tác thấp, các phân tử khí dễ dàng len lỏi và hòa trộn vào nhau.
Câu hỏi tr 34 HĐ
Để trả lời các câu hỏi này, chúng ta áp dụng kiến thức về Mô hình động học phân tử chất khí, cụ thể là hiện tượng chuyển động Brown:
- Nguyên lý: Chuyển động Brown là chuyển động hỗn loạn, không ngừng của các hạt nhỏ (hạt phân tán) lơ lửng trong chất lỏng hoặc chất khí.
- Bản chất: Sự chuyển động này là kết quả của các va chạm không cân bằng từ mọi phía của các phân tử môi trường (chất lỏng hoặc chất khí) lên hạt phân tán.
- Suy luận: Vì hạt phân tán chuyển động hỗn loạn $\rightarrow$ các phân tử môi trường phải chuyển động hỗn loạn và không ngừng.
1. Mô tả thí nghiệm quan sát chuyển động Brown trong không khí (Hình 8.1):
Thí nghiệm được tiến hành bằng cách cho một lượng nhỏ khói vào trong một bình kín chứa không khí. Sau đó, sử dụng kính hiển vi có độ phóng đại lớn để quan sát các hạt khói (là những hạt chất rắn cực nhỏ) lơ lửng trong không khí. Kết quả quan sát cho thấy các hạt khói không đứng yên mà chuyển động hỗn loạn, không ngừng theo những quỹ đạo zigzag không xác định.
Hình minh họa: Mô phỏng thí nghiệm chuyển động Brown của hạt khói trong bình
2. Chứng minh các phân tử không khí chuyển động hỗn loạn, không ngừng:
Dựa vào quỹ đạo chuyển động của hạt khói (Hình 8.2), ta thấy:
- Hạt khói có kích thước lớn hơn nhiều so với phân tử không khí, nhưng nó vẫn chuyển động zigzag một cách ngẫu nhiên.
- Nguyên nhân là do các phân tử không khí (vô hình) chuyển động nhiệt hỗn loạn và va chạm vào hạt khói từ mọi phía. Tại mỗi thời điểm, lực va chạm từ các hướng không cân bằng nhau, tạo ra một hợp lực đẩy hạt khói đi theo một hướng ngẫu nhiên.
- Vì hạt khói luôn luôn chuyển động và thay đổi hướng liên tục, điều này chứng tỏ các phân tử không khí xung quanh nó cũng luôn luôn chuyển động hỗn loạn và không ngừng.
Hình minh họa: Cơ chế va chạm của phân tử khí gây ra chuyển động Brown
3. Phân tích hiện tượng hạt bụi trong tia nắng:
Khi quan sát các hạt bụi trong tia nắng mặt trời chuyển động không ngừng, ta cần phân biệt hai trường hợp:
- Nếu là các hạt bụi cực nhỏ: Chuyển động của chúng chính là chuyển động Brown, do sự va chạm của các phân tử không khí gây ra.
- Nếu là các hạt bụi lớn hơn: Chuyển động của chúng chủ yếu là do các dòng đối lưu của không khí trong phòng (không khí nóng bay lên, không khí lạnh hạ xuống). Đây không phải là chuyển động Brown mà là chuyển động theo dòng chất lưu.
Kết luận: Trong thực tế, hiện tượng hạt bụi 'nhảy múa' trong tia nắng thường là sự kết hợp của cả hai, nhưng phần lớn những chuyển động rõ rệt mà mắt thường thấy được là do dòng đối lưu của không khí. Tuy nhiên, nếu hạt bụi đủ nhỏ, nó sẽ thực hiện chuyển động Brown.
Câu hỏi tr 35 HĐ 1
1. Vận dụng lí thuyết lực liên kết phân tử: Dựa vào đặc điểm về hình dạng, khả năng nén và tính chất khuếch tán của các thể chất để so sánh độ mạnh/yếu của lực tương tác giữa các phân tử.
2. Vận dụng khái niệm khối lượng riêng: Sử dụng công thức $\rho = \frac{m}{V}$. Khi cùng một khối lượng $m$ ở cùng điều kiện nhiệt độ và áp suất, việc so sánh $\rho$ của các thể sẽ cho biết thể tích $V$ chiếm chỗ, từ đó suy ra khoảng cách trung bình giữa các phân tử.
1. Các hiện tượng thực tế chứng tỏ lực liên kết giữa các phân tử ở thể khí rất yếu:
Chúng ta có thể quan sát các hiện tượng sau để so sánh:
- Khả năng nén: Chất khí rất dễ bị nén (ví dụ: bơm không khí vào lốp xe, bình gas nén), trong khi chất lỏng và chất rắn hầu như không thể nén được. Điều này cho thấy lực liên kết ở thể khí quá yếu, không đủ để giữ các phân tử ở một khoảng cách cố định, cho phép chúng bị ép lại gần nhau dễ dàng.
- Hình dạng và thể tích: Chất rắn có hình dạng và thể tích xác định; chất lỏng có thể tích xác định nhưng hình dạng thay đổi theo bình chứa; còn chất khí không có hình dạng và thể tích xác định, nó luôn chiếm toàn bộ thể tích của bình chứa. Điều này chứng tỏ các phân tử khí chuyển động hỗn loạn và không bị ràng buộc chặt chẽ bởi lực liên kết.
- Sự khuếch tán: Mùi hương của nước hoa hoặc khói thuốc lá lan tỏa rất nhanh trong không khí. Hiện tượng khuếch tán ở thể khí diễn ra nhanh hơn nhiều so với thể lỏng, cho thấy các phân tử khí tự do di chuyển mà không bị lực liên kết kìm hãm.
Hình minh họa: Mô hình phân tử ở ba thể Rắn, Lỏng, Khí
2. Chứng minh khoảng cách giữa các phân tử ở thể khí rất lớn dựa vào khối lượng riêng:
Xét cùng một chất ở cùng điều kiện nhiệt độ và áp suất:
- Gọi $\rho_r, \rho_l, \rho_k$ lần lượt là khối lượng riêng của chất đó ở thể rắn, thể lỏng và thể khí.
- Thực tế cho thấy: $\rho_r \approx \rho_l \gg \rho_k$. Thông thường, $\rho_k$ nhỏ hơn $\rho_l$ và $\rho_r$ hàng nghìn lần (ví dụ: nước lỏng có $\rho \approx 1000 kg/m^3$, trong khi hơi nước ở điều kiện tiêu chuẩn có $\rho \approx 0.6 kg/m^3$).
- Theo công thức $\rho = \frac{m}{V} \implies V = \frac{m}{\rho}$. Với cùng một khối lượng $m$ phân tử, vì $\rho_k$ rất nhỏ nên thể tích $V_k$ mà chất khí chiếm chỗ là rất lớn so với thể tích $V_l$ của chất lỏng và $V_r$ của chất rắn ($V_k \gg V_l \approx V_r$).
- Vì tổng thể tích tăng lên hàng nghìn lần trong khi số lượng phân tử không đổi, nên không gian trung bình dành cho mỗi phân tử trong thể khí là rất lớn. Điều này chứng tỏ khoảng cách trung bình giữa các phân tử ở thể khí rất lớn so với ở thể lỏng và thể rắn.
Câu hỏi tr 35 HĐ 2
Để hoàn thành Bảng 8.1, ta vận dụng Mô hình động học phân tử chất khí. Phương pháp là thiết lập mối liên hệ giữa đặc điểm vi mô (cấu tạo, chuyển động của phân tử) và các hiện tượng vĩ mô (hiện tượng có thể quan sát hoặc đo đạc được):
- Đặc điểm: Kích thước phân tử rất nhỏ và khoảng cách lớn $\rightarrow$ Hiện tượng: Khả năng nén khí (do có nhiều khoảng trống).
- Đặc điểm: Va chạm của phân tử với thành bình $\rightarrow$ Hiện tượng: Tạo ra áp suất chất khí.
Dựa vào lý thuyết về mô hình động học phân tử chất khí, ta phân tích và điền vào bảng như sau:
1. Đối với nội dung số 2: Kích thước các phân tử khí rất nhỏ so với khoảng cách giữa chúng. Điều này có nghĩa là trong một đơn vị thể tích chất khí, phần thể tích thực sự bị chiếm bởi các phân tử là rất nhỏ, phần còn lại là khoảng không gian trống.
Hình minh họa: Khả năng nén khí do khoảng cách giữa các phân tử lớn
$\rightarrow$ Hiện tượng thực tế: Khả năng nén khí (Ví dụ: Khi ta ấn pít-tông của một ống tiêm đã bịt kín đầu, thể tích khí bên trong giảm đi đáng kể).
2. Đối với nội dung số 3: Khi chuyển động, các phân tử khí va chạm liên tục với nhau và với thành bình. Mỗi lần va chạm, phân tử truyền một xung lực cho thành bình.
Hình minh họa: Phân tử khí va chạm với thành bình gây ra áp suất
$\rightarrow$ Hiện tượng thực tế: Áp suất chất khí tác dụng lên thành bình (Ví dụ: Quả bóng bay căng phồng do không khí bên trong va chạm với thành bóng).
Kết luận: Bảng 8.1 hoàn thiện như sau:
| STT | Mô hình động học phân tử chất khí | Các thí nghiệm và hiện tượng thực tế |
|---|---|---|
| 1 | Phân tử khí chuyển động hỗn loạn, không ngừng. | Chuyển động Brown trong không khí. |
| 2 | Kích thước của các phân tử khí rất nhỏ so với khoảng cách giữa chúng. | Khả năng nén khí (nén khí trong ống tiêm). |
| 3 | Khi chuyển động các phân tử khí va chạm với nhau và với thành bình. | Áp suất chất khí tác dụng lên thành bình. |
Câu hỏi tr 36 HĐ
Sử dụng mô hình động học phân tử chất khí để giải thích:
1. Áp suất khí là kết quả của sự va chạm giữa các phân tử khí với thành bình.
2. Khi nhiệt độ không đổi, tốc độ trung bình của các phân tử khí không đổi $\rightarrow$ lực va chạm trung bình của mỗi phân tử lên thành bình là không đổi.
3. Khi thể tích giảm, mật độ phân tử khí tăng $\rightarrow$ số lần va chạm của các phân tử lên một đơn vị diện tích thành bình trong một đơn vị thời gian tăng $\rightarrow$ áp suất tăng.
Dựa trên mô hình động học phân tử chất khí, ta lập luận như sau:
1. Bản chất của áp suất chất khí: Các phân tử khí chuyển động hỗn loạn không ngừng. Khi chuyển động, chúng va chạm với nhau và va chạm vào thành bình chứa. Mỗi lần va chạm, phân tử truyền cho thành bình một xung lực. Tổng hợp tất cả các xung lực này trên một đơn vị diện tích thành bình trong một đơn vị thời gian chính là áp suất của chất khí.
2. Phân tích khi giảm thể tích (giữ nguyên nhiệt độ):
- Về tốc độ: Vì nhiệt độ được giữ nguyên, động năng trung bình của các phân tử không đổi, do đó tốc độ trung bình của các phân tử khí vẫn giữ nguyên. Điều này có nghĩa là cường độ (lực) của mỗi lần va chạm đơn lẻ không thay đổi.
- Về mật độ: Khi giảm thể tích $V$ của bình chứa mà khối lượng khí (số phân tử $N$) không đổi, mật độ phân tử ($\frac{N}{V}$) sẽ tăng lên. Các phân tử khí trở nên 'đông đúc' hơn trong một không gian hẹp hơn.
- Về tần suất va chạm: Do mật độ phân tử tăng, xác suất và số lần va chạm của các phân tử lên một đơn vị diện tích thành bình trong một đơn vị thời gian sẽ tăng lên rõ rệt.
Kết luận: Vì lực va chạm mỗi lần là không đổi nhưng số lần va chạm tăng lên, nên tổng lực tác dụng lên thành bình tăng, dẫn đến áp suất $p$ của khí tăng.
Hình minh họa: Sự thay đổi mật độ va chạm của phân tử khí khi giảm thể tích
Ví dụ thực tế:
- Ống tiêm (Xy lanh): Khi ta bịt kín đầu ống tiêm và ấn pit-tông xuống để giảm thể tích khối khí bên trong, ta sẽ cảm thấy lực cản từ pit-tông tăng dần. Đó là do thể tích khí giảm khiến áp suất khí trong ống tăng lên, đẩy ngược pit-tông ra ngoài.
- Bơm xe đạp: Khi nhấn tay cầm của bơm (đã bịt kín van), càng đẩy sâu (giảm thể tích) thì càng thấy nặng tay hơn do áp suất khí trong ống bơm tăng cao.
Lý thuyết
Bài 8. Mô hình động học phân tử chất khí
I. Chuyển động và tương tác của các phần tử khí
1. Chuyển động Brown trong chất khí
- Chất khí được cấu tạo từ các phân tử chuyển động hỗn loạn, không ngừng
- Nhiệt độ của khí càng cao thì tốc độ chuyển động hỗn loạn của các phân tử khí càng lớn
2. Tương tác giữa các phân tử khí
- Giữa các phân tử khí cũng có lực đẩy và lực hút, gọi chung là lực liên kết
- Khoảng cách giữa các phân tử ở thể khí rất lớn so với ở thể lỏng và thể rắn nên lực liên kết giữa các phân tử ở thể khí rất yếu so với ở thể lỏng và thể rắn
II. Mô hình động học phân tử chất khí
1. Chất khí được cấu tạo từ các phân tử có kích thước rất nhỏ so với khoảng cách giữa chúng. Lực liên kết giữa các phân tử ở thể khí rất yếu so với ở thể lỏng và thể rắn
2. Các phân tử khí chuyển động hỗn loạn, không ngừng. Chuyển động này càng nhanh thì nhiệt độ khí càng cao
3. Khi chuyển động hỗn loạn, các phân tử khí va chạm với nhau và với thành bình. Khi va chạm với thành bình các phân tử khí tác dụng lực, gây áp suất lên thành bình
III. Khí lí tưởng
1. Các phân tử khí được coi là chất điểm, không tương tác với nhau khi chưa va chạm
2. Các phân tử khí tương tác khi va chạm với nhau và va chạm với thành bình. Các va chạm này là va chạm hoàn toàn đàn hồi
Mô hình trên bỏ qua thể tích của phân tử khí, bỏ qua tương tác của các phân tử khi chưa va chạm và coi va chạm là hoàn toàn đàn hồi làm cho việc mô tả các hiện tượng về chất khí trở nên đơn giản, dễ dàng. Chất khí trong mô hình trên được gọi là khí lí tưởng
Sơ đồ tư duy về “Mô hình động học phân tử chất khí”