Bài 25. Bài tập về vật lí hạt nhân trang 119, 120, 121 Vật Lí 12 Kết nối tri thức
Cần vận dụng những kiến thức cơ bản nào để giải những bài tập về vật lí hạt nhân?
Câu hỏi tr 119 CHMĐ
Để giải các bài tập về Vật lí hạt nhân, học sinh cần hệ thống hóa và vận dụng các mảng kiến thức cốt lõi sau: Cấu tạo hạt nhân (Số khối, điện tích), Năng lượng hạt nhân (Độ hụt khối, năng lượng liên kết), Phản ứng hạt nhân (Các định luật bảo toàn) và Phóng xạ (Chu kỳ bán rã, định luật phân rã).
Để giải quyết hiệu quả các bài tập Vật lí hạt nhân trong chương trình Vật lí 12, chúng ta cần vận dụng tổng hợp các kiến thức cơ bản sau đây:
- Kiến thức về cấu tạo hạt nhân:
– Hiểu về ký hiệu hạt nhân: $_{Z}^{A}X$ trong đó $A$ là số khối (tổng số nucleon), $Z$ là số proton (điện tích hạt nhân) và $N = A - Z$ là số neutron.
– Phân biệt được hạt nhân bền và hạt nhân không bền. - Kiến thức về năng lượng liên kết:
– Độ hụt khối ($\Delta m$): Là sự chênh lệch giữa tổng khối lượng các nucleon riêng lẻ với khối lượng của hạt nhân khi đã liên kết.
– Công thức: $\Delta m = [Z \cdot m_p + (A - Z) \cdot m_n] - m_{hn}$.
– Năng lượng liên kết ($E_{lk}$): $E_{lk} = \Delta m \cdot c^2$.
– Năng lượng liên kết riêng: $E_{lk} / A$ (đặc trưng cho độ bền vững của hạt nhân). - Kiến thức về phản ứng hạt nhân:
– Vận dụng các định luật bảo toàn:
$\quad +$ Bảo toàn điện tích (tổng số proton trước và sau phản ứng).
$\quad +$ Bảo toàn số khối (tổng số nucleon trước và sau phản ứng).
$\quad +$ Bảo toàn năng lượng (bao gồm cả năng lượng nghỉ $mc^2$ và động năng).
$\quad +$ Bảo toàn động lượng. - Kiến thức về phóng xạ:
– Hiểu bản chất của các tia $\alpha, \beta^+, \beta^-, \gamma$.
– Áp dụng định luật phân rã phóng xạ: $N(t) = N_0 \cdot e^{-\lambda t}$ hoặc $N(t) = N_0 \cdot 2^{-t/T}$.
– Mối liên hệ giữa hằng số phóng xạ $\lambda$ và chu kỳ bán rã $T$: $\lambda = \frac{\ln 2}{T}$.
Hình minh họa: Sơ đồ mối liên hệ giữa các mảng kiến thức cơ bản của Vật lí hạt nhân
Kết luận: Việc nắm vững các định luật bảo toàn và mối liên hệ giữa khối lượng - năng lượng là chìa khóa quan trọng nhất để giải quyết mọi bài toán về hạt nhân.
Câu hỏi tr 121 Bài 1
Để giải quyết câu hỏi này, ta vận dụng kiến thức về tương tác tĩnh điện (lực Coulomb) trong vật lí hạt nhân:
- Điện tích: Hạt alpha (${}_2^4\text{He}$) gồm 2 proton và 2 neutron nên mang điện tích dương ($q_1 = +2e$). Hạt nhân vàng (${}_{79}^{197}\text{Au}$) có 79 proton nên cũng mang điện tích dương ($q_2 = +79e$).
- Định luật Coulomb: Hai điện tích cùng dấu thì đẩy nhau. Khi hạt alpha tiến lại gần hạt nhân vàng, lực đẩy tĩnh điện sẽ tác dụng lên hạt alpha, làm thay đổi quỹ đạo chuyển động của nó.
- Phân biệt với lực hạt nhân: Lực hạt nhân chỉ có tác dụng ở khoảng cách cực ngắn ($\sim 10^{-15}\text{m}$). Hầu hết các hạt alpha chỉ bị lệch hướng do lực tĩnh điện mà không chạm tới phạm vi tác dụng của lực hạt nhân.
Phân tích chi tiết:
Trong thí nghiệm bắn phá lá vàng mỏng của Rutherford, các hạt alpha được gia tốc và bắn vào một lá vàng mỏng. Kết quả quan sát thấy đa số các hạt đi thẳng, một số ít bị lệch góc nhỏ và một số rất ít bị bật ngược trở lại.
Nguyên nhân của hiện tượng này được giải thích như sau:
- Bản chất điện tích: Cả hạt alpha và hạt nhân vàng đều mang điện tích dương. Theo quy tắc tương tác điện, hai điện tích cùng dấu sẽ đẩy nhau.
- Cơ chế làm thay đổi phương: Khi hạt alpha di chuyển đến gần hạt nhân vàng, lực đẩy tĩnh điện giữa chúng tăng dần (vì khoảng cách $r$ giảm, $F = k \frac{|q_1q_2|}{r^2}$). Lực này đóng vai trò là lực hướng tâm (nhưng ngược hướng), đẩy hạt alpha ra xa hạt nhân, khiến quỹ đạo của nó bị bẻ cong, làm thay đổi phương chuyển động ban đầu.
- Loại trừ các phương án khác:\n- Phương án A và B: Lực hạt nhân chỉ xuất hiện khi hạt alpha tiếp xúc cực gần với hạt nhân. Việc hạt alpha bị lệch hướng xảy ra ở khoảng cách lớn hơn nhiều so với tầm tác dụng của lực hạt nhân.\n- Phương án D: Các electron phân bố rộng xung quanh hạt nhân và có khối lượng rất nhỏ, không đủ khả năng gây ra lực hút đủ mạnh để làm lệch hướng một hạt alpha có khối lượng lớn và vận tốc cao.
Hình minh họa: Hạt alpha bị lệch hướng do lực đẩy tĩnh điện từ hạt nhân vàng
\nKết luận: Lực làm thay đổi phương của hạt alpha là lực đẩy tĩnh điện giữa hạt nhân vàng và hạt alpha.
=> Đáp án chính xác: C.
Câu hỏi tr 121 Bài 2
Để giải bài toán này, ta áp dụng kiến thức về định luật phóng xạ:
- Định luật phóng xạ: Độ phóng xạ $H$ của một mẫu chất phóng xạ giảm dần theo thời gian theo hàm số mũ: $H(t) = H_0 \cdot 2^{-\frac{t}{T_{1/2}}}$
- Chu kì bán rã ($T_{1/2}$): Là khoảng thời gian để độ phóng xạ của mẫu chất giảm đi một nửa so với giá trị ban đầu ($H = \frac{H_0}{2}$).
- Phương pháp đồ thị: Vẽ đường biểu diễn $H$ theo $t$. Từ giá trị $H_0$ trên trục tung, xác định giá trị $\frac{H_0}{2}$, từ đó dóng sang đường đồ thị và dóng xuống trục hoành để tìm $t = T_{1/2}$.
a) Vẽ đồ thị độ phóng xạ theo thời gian
Dựa vào bảng số liệu, ta có các cặp giá trị $(t, H)$ là: $(0, 151), (30, 85), (60, 55), (120, 31), (180, 22), (240, 15), (300, 11), (360, 9)$. Ta vẽ đồ thị với trục hoành $Ot$ biểu diễn thời gian (s) và trục tung $OH$ biểu diễn độ phóng xạ (Bq).
Hình minh họa: Đồ thị độ phóng xạ H theo thời gian t
\nb) Ước lượng chu kì bán rã của đồng vị
\nĐể ước lượng chu kì bán rã $T_{1/2}$, ta thực hiện các bước sau:
\n- \n
- Xác định độ phóng xạ ban đầu (tại $t = 0$): $H_0 = 151$ Bq. \n
- Tính giá trị độ phóng xạ khi giảm đi một nửa: $H = \frac{H_0}{2} = \frac{151}{2} = 75,5$ Bq. \n
- Tra bảng số liệu hoặc quan sát đồ thị:\n
- \n
- Tại $t = 30$ s, $H = 85$ Bq. \n
- Tại $t = 60$ s, $H = 55$ Bq. \n
- Vì $75,5$ Bq nằm trong khoảng giữa $55$ Bq và $85$ Bq, nên chu kì bán rã $T_{1/2}$ sẽ nằm trong khoảng từ $30$ s đến $60$ s. \n
\n - Sử dụng phương pháp nội suy tuyến tính đơn giản để ước lượng chính xác hơn:\n $$T_{1/2} \approx 30 + \frac{85 - 75,5}{85 - 55} \cdot (60 - 30) = 30 + \frac{9,5}{30} \cdot 30 = 39,5 \text{ (s)}$$ \n
Kết luận: Chu kì bán rã của đồng vị này ước lượng khoảng 40 giây.
Câu hỏi tr 121 Bài 3
Để giải bài toán này, chúng ta áp dụng các kiến thức cốt lõi về vật lí hạt nhân và định luật phóng xạ:
- Độ phóng xạ (Activity): $H = \lambda N$, trong đó $H$ là số phân rã trên một đơn vị thời gian, $\lambda$ là hằng số phóng xạ và $N$ là số hạt nhân phóng xạ hiện có.
- Hằng số phóng xạ: $\lambda = \frac{\ln 2}{T}$, với $T$ là chu kì bán rã.
- Định luật phóng xạ: $N = N_0 e^{-\lambda t}$ hoặc $t = \frac{T}{\ln 2} \ln \frac{N_0}{N}$, dùng để xác định tuổi của mẫu vật.
- Số hạt nhân: $N = \frac{m}{M} \cdot N_A$, trong đó $m$ là khối lượng, $M$ là khối lượng mol và $N_A$ là số Avogadro ($6,022 \times 10^{23} \text{ mol}^{-1}$).
a) Xác định số nguyên tử ${}_{6}^{14}C$ có trong mẫu gỗ hiện nay.
Đổi đơn vị độ phóng xạ ra giây (đơn vị chuẩn Bq):
$H = 240 \text{ phóng xạ/phút} = \frac{240}{60} = 4 \text{ s}^{-1}$ (hoặc 4 Bq).
Chu kì bán rã của ${}_{6}^{14}C$ tính theo giây là:
$T = 5730 \text{ năm} \approx 5730 \times 365,25 \times 24 \times 3600 \approx 1,807 \times 10^{11} \text{ s}$.
Hằng số phóng xạ $\lambda$ là:
$\lambda = \frac{\ln 2}{T} = \frac{0,693}{1,807 \times 10^{11}} \approx 3,83 \times 10^{-12} \text{ s}^{-1}$.
Số nguyên tử ${}_{6}^{14}C$ hiện có trong mẫu gỗ là:
$N = \frac{H}{\lambda} = \frac{4}{3,83 \times 10^{-12}} \approx 1,044 \times 10^{12} \text{ hạt}$.
Hình minh họa: Đồ thị phân rã phóng xạ của carbon-14 theo thời gian
b) Xác định độ tuổi của mẫu gỗ.
Vì tỉ lệ $\frac{{}_{6}^{14}C}{{}_{6}^{12}C}$ rất nhỏ ($10^{-12}$), khối lượng mẫu gỗ 25g có thể coi gần như toàn bộ là ${}_{6}^{12}C$.
Số nguyên tử ${}_{6}^{12}C$ trong mẫu là:
$N_{12} = \frac{m}{M} \cdot N_A = \frac{25}{12} \cdot 6,022 \times 10^{23} \approx 1,255 \times 10^{24} \text{ hạt}$.
Theo tỉ lệ khi sinh vật còn sống, số nguyên tử ${}_{6}^{14}C$ ban đầu ($N_0$) là:
$N_0 = N_{12} \times 10^{-12} = 1,255 \times 10^{24} \times 10^{-12} = 1,255 \times 10^{12} \text{ hạt}$.
Áp dụng công thức xác định thời gian phân rã:
$t = \frac{T}{\ln 2} \ln \frac{N_0}{N} = \frac{5730}{0,693} \ln \left( \frac{1,255 \times 10^{12}}{1,044 \times 10^{12}} \right)$
$t \approx 8268 \times \ln(1,202) \approx 8268 \times 0,184 \approx 1521 \text{ năm}$.
Kết luận:
a) Số nguyên tử ${}_{6}^{14}C$ hiện có trong mẫu gỗ là khoảng $1,044 \times 10^{12}$ hạt.
b) Độ tuổi của mẫu gỗ cổ vật này khoảng 1521 năm.
Câu hỏi tr 121 Bài 4
Để giải bài toán này, chúng ta vận dụng các kiến thức và công thức sau:
- Năng lượng điện tiêu thụ trong 1 năm: $E_{điện} = P \cdot t$ (với $t$ là số giây trong 1 năm).
- Mối liên hệ giữa nhiệt năng và điện năng: Do hiệu suất $\\eta$, nhiệt năng cần cung cấp là $E_{nhiệt} = \\frac{E_{điện}}{\\eta}$.
- Năng lượng của một phân hạch: $\\Delta E = 200\\text{ MeV} = 200 \\times 1,6 \\times 10^{-13}\\text{ J}$.
- Số hạt nhân phân hạch: $N = \\frac{E_{nhiệt}}{\\Delta E}$.
- Khối lượng nguyên liệu: $m = \\frac{N}{N_A} \cdot M$ (với $N_A$ là số Avogadro, $M$ là khối lượng mol).
- Khối lượng than đá: $m_{than} = \\frac{E_{nhiệt}}{q}$ (với $q$ là năng suất tỏa nhiệt của than).
a) Tính khối lượng nguyên liệu ${}^{235}U$ tiêu thụ trong 1 năm:
1. Tính tổng điện năng nhà máy phát ra trong 1 năm (giả sử 1 năm có 365 ngày):
Thời gian $t = 365 \\times 24 \\times 3600 = 31.536.000\\text{ s}$.
Điện năng: $E_{điện} = P \\cdot t = 1400 \\times 10^6 \\times 31.536.000 \\approx 4,415 \\times 10^{16}\\text{ J}$.
2. Tính tổng nhiệt năng mà phản ứng phân hạch cần cung cấp (do hiệu suất $\\eta = 36\% = 0,36$):
$E_{nhiệt} = \\frac{E_{điện}}{\\eta} = \\frac{4,415 \\times 10^{16}}{0,36} \\approx 1,226 \\times 10^{17}\\text{ J}$.
3. Tính năng lượng của mỗi phân hạch hạt nhân ${}^{235}U$ ra đơn vị Joule:
$\\Delta E = 200 \\times 1,602 \\times 10^{-13} \\approx 3,204 \\times 10^{-11}\\text{ J}$.
4. Tính tổng số hạt nhân ${}^{235}U$ đã phân hạch:
$N = \\frac{E_{nhiệt}}{\\Delta E} = \\frac{1,226 \\times 10^{17}}{3,204 \\times 10^{-11}} \\approx 3,827 \\times 10^{27}\\text{ hạt nhân}$.
5. Tính khối lượng ${}^{235}U$ tiêu thụ:
Sử dụng công thức $m = \\frac{N}{N_A} \\cdot M$ với $N_A = 6,022 \\times 10^{23}\\text{ mol}^{-1}$ và $M = 235\\text{ g/mol} = 0,235\\text{ kg/mol}$.
$m_U = \\frac{3,827 \\times 10^{27}}{6,022 \\times 10^{23}} \\times 0,235 \\approx 1493\\text{ kg}$.
Hình minh họa: Sơ đồ chuyển hóa năng lượng từ phân hạch hạt nhân sang điện năng
b) Tính lượng than đá tiêu thụ tương đương:
Để sản xuất ra cùng một lượng điện năng (với giả định hiệu suất chuyển đổi nhiệt năng thành điện năng của nhà máy nhiệt điện tương đương nhà máy điện hạt nhân là $36\%$), tổng nhiệt năng cần từ than đá cũng phải là $E_{nhiệt} \\approx 1,226 \\times 10^{17}\\text{ J}$.
Khối lượng than đá cần dùng là:
$m_{than} = \\frac{E_{nhiệt}}{q} = \\frac{1,226 \\times 10^{17}}{30 \\times 10^6} \\approx 4,087 \\times 10^9\\text{ kg}$.
Đổi sang đơn vị tấn: $m_{than} \\approx 4.087.000\\text{ tấn}$.
Kết luận:
- Khối lượng ${}^{235}U$ tiêu thụ trong 1 năm là khoảng 1493 kg.
- Lượng than đá tiêu thụ tương đương là khoảng 4,087 triệu tấn. Điều này cho thấy mật độ năng lượng cực lớn của nhiên liệu hạt nhân so với nhiên liệu hóa thạch.
Câu hỏi tr 122 Bài 5
Để giải bài toán này, chúng ta cần vận dụng kiến thức về định luật phân rã phóng xạ và nguyên lý liều chiếu xạ:
- Độ phóng xạ: Độ phóng xạ của một mẫu chất phóng xạ giảm dần theo thời gian theo công thức: $A = A_0 \cdot 2^{-\frac{t}{T}}$ hoặc $\frac{A_1}{A_2} = 2^{\frac{\Delta t}{T}}$, trong đó $T$ là chu kì bán rã, $\Delta t$ là khoảng thời gian trôi qua.
- Liều chiếu xạ: Để bảo quản một lượng thuốc như nhau, tổng lượng tia phóng xạ (liều) mà thuốc hấp thụ phải là không đổi. Liều chiếu xạ tỉ lệ thuận với độ phóng xạ của nguồn ($A$) và thời gian chiếu xạ ($t$): $D = k \cdot A \cdot t$.
- Mối liên hệ: Vì liều chiếu xạ $D$ không đổi cho cùng một lượng thuốc, ta có: $A_1 \cdot t_1 = A_2 \cdot t_2 \Rightarrow t_2 = t_1 \cdot \frac{A_1}{A_2} = t_1 \cdot 2^{\frac{\Delta t}{T}}$.
1. Xác định các thông số đề bài:
- Thời điểm 1: Tháng 1 năm 2022 $\rightarrow$ Thời gian chiếu xạ $t_1 = 150$ phút.
- Thời điểm 2: Tháng 6 năm 2024.
- Chu kì bán rã của ${}_{27}^{60}Co$: $T = 5,3$ năm.
2. Tính khoảng thời gian chênh lệch ($\Delta t$):
Từ tháng 1/2022 đến tháng 6/2024 là: 2 năm và 5 tháng.
$$\Delta t = 2 + \frac{5}{12} \approx 2,417 \text{ năm}$$
Hình minh họa: Sự suy giảm độ phóng xạ của nguồn Co-60 theo thời gian
3. Tính thời gian chiếu xạ vào tháng 6 năm 2024 ($t_2$):
Vì cùng một lượng thuốc và yêu cầu cùng một mức liều chiếu xạ, ta có phương trình:
$$t_2 = t_1 \cdot 2^{\frac{\Delta t}{T}}$$
Thay số vào công thức:
$$t_2 = 150 \cdot 2^{\frac{2,417}{5,3}} \approx 150 \cdot 2^{0,456}$$
Tính toán giá trị mũ: $2^{0,456} \approx 1,3718$
$$t_2 \approx 150 \cdot 1,3718 \approx 205,77 \text{ phút}$$
Kết luận: Vào tháng 6 năm 2024, người lái xe tải sẽ phải chờ khoảng 206 phút để toàn bộ lượng thuốc được chiếu xạ đầy đủ.
Câu hỏi tr 122 Bài 6
1. Đối với câu a: Áp dụng định luật bảo toàn số khối (A) và bảo toàn điện tích (số proton Z) cho phản ứng hạt nhân:
$$\sum A_{trước} = \sum A_{sau}$$
$$\sum Z_{trước} = \sum Z_{sau}$$
2. Đối với câu b: Sử dụng định luật phóng xạ. Để duy trì độ phóng xạ $H$ không đổi tại thời điểm tiêm, do dược chất bị phân rã theo thời gian, lượng dược chất cần tiêm (tính theo khối lượng hoặc thể tích dung dịch ban đầu) phải tăng lên để bù đắp lượng đã mất đi. Công thức tính tỉ lệ: $\frac{N_2}{N_1} = 2^{\frac{\Delta t}{T}}$ hoặc $\frac{H_0(2)}{H_0(1)} = e^{\lambda \Delta t}$.
a) Xác định loại hạt được tăng tốc:
Gọi hạt được tăng tốc là $X$ có ký hiệu là ${}_Z^A X$.
Phương trình phản ứng hạt nhân xảy ra là:
${}_Z^A X + {}_{8}^{18}O \rightarrow {}_{9}^{18}F + {}_{0}^{1}n + \gamma$
Hình minh họa: Sơ đồ phản ứng bắn phá hạt nhân Oxygen-18 để tạo Fluorine-18
\nÁp dụng các định luật bảo toàn:
- Bảo toàn số khối: $A + 18 = 18 + 1 \Rightarrow A = 1$
- Bảo toàn điện tích: $Z + 8 = 9 + 0 \Rightarrow Z = 1$
Hạt có $A=1$ và $Z=1$ là proton (ký hiệu là ${}_1^1 p$ hoặc ${}_1^1 H$). Vậy hạt được tăng tốc trong máy gia tốc là proton.
b) Xác định lượng dược chất FDG cần tiêm:
Để đảm bảo độ phóng xạ $H$ trên mỗi kg cân nặng là không đổi tại thời điểm tiêm, ta có: $H = \lambda N$ (với $N$ là số hạt nhân phóng xạ có trong liều tiêm).
Vì $H$ và $\lambda$ (hằng số phân rã của ${}_9^{18}F$) là như nhau cho cả hai bệnh nhân, nên số hạt nhân phóng xạ ${}_9^{18}F$ thực tế đi vào cơ thể mỗi bệnh nhân tại thời điểm tiêm là bằng nhau.
Tuy nhiên, dược chất FDG được sản xuất từ cùng một đợt. Theo thời gian, các hạt nhân ${}_9^{18}F$ trong mẫu dược chất sẽ bị phân rã. Để lấy được cùng một số lượng hạt nhân $N$ tại thời điểm $t$ sau khi sản xuất, ta cần lấy một thể tích (hoặc khối lượng) dung dịch lớn hơn so với thời điểm ban đầu.
Gọi $N_1$ là lượng FDG tiêm cho bệnh nhân thứ nhất (tại $t = 0$), $N_2$ là lượng FDG tiêm cho bệnh nhân thứ hai (tại $t = 60$ phút) tính theo nồng độ ban đầu.
Ta có công thức phân rã: $N = N_0 \cdot 2^{-\frac{t}{T}}$. Để $N$ không đổi, thì $N_0$ phải thay đổi theo: $N_2 = N_1 \cdot 2^{\frac{\Delta t}{T}}$
Hình minh họa: Đồ thị độ phóng xạ giảm dần theo thời gian. Để đạt cùng H yêu cầu, BN 2 cần lượng dược chất ban đầu lớn hơn.
\nThay số: $\Delta t = 60$ phút, $T = 110$ phút.
$\frac{N_2}{N_1} = 2^{\frac{60}{110}} = 2^{\frac{6}{11}} \approx 1,4593$
Kết luận: Người thứ hai sẽ được tiêm lượng dược chất FDG (tính theo mẫu ban đầu) nhiều hơn. Phần trăm nhiều hơn là:
$\% \text{ tăng} = (1,4593 - 1) \cdot 100\% \approx 45,93\%$