Bài 3. Áp suất và động năng phân tử chất khí trang 44, 45, 46 Vật Lí 12 Cánh diều
Ngày 01/7/2021, trên mặt biển phía tây bán đảo Yucatan (lu-ca-tan, vịnh Mexico) xuất hiện một đám lửa lớn do cháy khí hóa lỏng rò rỉ từ một đường ống dẫn dưới đáy biển. Một lượng lớn người và phương tiện đã phải huy động để khắc phục sự cố này (Hình 3.1). Áp suất khí trong bình chứa quá cao có thể gây ra rò rỉ khí. Chính chuyển động của các phân tử khí trong bình chứa đã gây ra áp suất lên thành bình. Vậy mối liên hệ giữa chuyển động của các phân tử khí với áp suất khí tác động lên bình chứa như
Câu hỏi tr 44 CHMĐ
Để trả lời câu hỏi này, ta áp dụng Thuyết động học phân tử chất khí. Cốt lõi của vấn đề nằm ở việc phân tích sự tương tác giữa các phân tử khí và thành bình thông qua: (1) Chuyển động nhiệt hỗn loạn, (2) Va chạm đàn hồi, (3) Sự biến thiên động lượng tạo ra lực tác dụng và (4) Định nghĩa áp suất là lực trên một đơn vị diện tích.
Mối liên hệ giữa chuyển động của các phân tử khí và áp suất khí tác động lên thành bình được giải thích chi tiết qua các lập luận sau:
- Chuyển động hỗn loạn: Các phân tử khí trong bình không đứng yên mà luôn chuyển động hỗn loạn, không ngừng về mọi phía với vận tốc rất lớn (chuyển động nhiệt).
- Va chạm với thành bình: Trong quá trình chuyển động, các phân tử khí liên tục va chạm vào thành bình chứa. Vì số lượng phân tử khí là cực kỳ lớn, nên các va chạm này xảy ra liên tục và dày đặc trên mọi điểm của bề mặt thành bình.
- Sự biến thiên động lượng: Khi một phân tử khí va chạm với thành bình và bật ngược trở lại, động lượng của nó bị thay đổi ($\Delta p$). Theo định luật II Newton, sự thay đổi động lượng trong một khoảng thời gian rất ngắn gây ra một lực tác động lên thành bình.
- Hình thành áp suất: Tổng hợp tất cả các lực do hàng tỉ phân tử khí va chạm vào thành bình trong một đơn vị thời gian tạo nên một áp lực trung bình. Áp suất ($p$) chính là áp lực này chia cho diện tích bề mặt thành bình: $p = \\frac{F}{S}$.
Hình minh họa: Sự va chạm của các phân tử khí lên thành bình gây ra áp suất
Kết luận: Áp suất khí tỉ lệ thuận với tần số va chạm và cường độ va chạm (động năng) của các phân tử khí lên thành bình. Khi nhiệt độ tăng hoặc thể tích bình giảm (mật độ phân tử tăng), các phân tử va chạm vào thành bình nhiều hơn và mạnh hơn, dẫn đến áp suất tăng cao, dễ gây ra rò rỉ hoặc nổ bình như trong sự cố tại vịnh Mexico.
Câu hỏi tr 45 CH 1
Phương pháp giải:
Vận dụng đặc điểm của va chạm đàn hồi và định nghĩa động năng phân tử. Trong một va chạm đàn hồi lý tưởng, động năng của hệ được bảo toàn. Vì thành bình có khối lượng rất lớn so với phân tử khí và được coi là cố định, nên sau va chạm, động năng của phân tử khí không thay đổi.
Để so sánh vận tốc của phân tử trước và sau va chạm đàn hồi với thành bình, ta lập luận như sau:
1. Về mặt năng lượng:
Theo định nghĩa, va chạm đàn hồi là va chạm mà trong đó động năng của vật trước và sau va chạm được bảo toàn. Công thức tính động năng của một phân tử khí là:
Wd = ½mv²
Trong đó: m là khối lượng phân tử, v là tốc độ (độ lớn của vận tốc).
Vì động năng Wd không đổi và khối lượng m của phân tử không đổi, nên độ lớn của vận tốc (tốc độ) của phân tử trước và sau va chạm phải bằng nhau:
|vtrước| = |vsau|
Hình minh họa: Mô hình va chạm đàn hồi của phân tử khí với thành bình
2. Về mặt vectơ vận tốc:
Vận tốc là một đại lượng vectơ. Khi va chạm với thành bình, phân tử sẽ bị phản xạ. Nếu thành bình phẳng, thành phần vận tốc vuông góc với thành bình sẽ đổi chiều, trong khi thành phần vận tốc song song với thành bình không thay đổi.
Kết luận:
Về độ lớn, vận tốc của phân tử trước và sau va chạm đàn hồi với thành bình là bằng nhau. Tuy nhiên, về hướng, vận tốc của phân tử đã thay đổi (bị bật ngược trở lại).
Câu hỏi tr 45 CH 2
Để chứng minh công thức này, ta vận dụng lý thuyết động học phân tử chất khí. Phương pháp cốt lõi là xác định một 'vùng va chạm' (collision volume) trong không gian. Những phân tử nằm trong vùng này và chuyển động hướng về phía thành bình sẽ va chạm với thành bình trong một khoảng thời gian $\Delta t$ nhất định. Từ đó, ta tính tổng số phân tử va chạm, rồi chia cho diện tích và thời gian để tìm số va chạm trên một đơn vị diện tích trong một đơn vị thời gian.
Giả sử ta có một khối khí với mật độ phân tử là $\mu$ (số phân tử trong một đơn vị thể tích) và tốc độ trung bình của các phân tử là $v$. Xét một phần diện tích $A$ trên thành bình của vật chứa.
Hình minh họa: Vùng không gian chứa các phân tử có khả năng va chạm với diện tích A trong thời gian Δt
Bước 1: Xác định vùng không gian va chạm
Trong khoảng thời gian $\Delta t$, những phân tử khí có thể va chạm với diện tích $A$ là những phân tử nằm trong một hình trụ có tiết diện là $A$ và chiều cao là quãng đường mà phân tử di chuyển được: $s = v \cdot \Delta t$.
Bước 2: Tính thể tích vùng va chạm
Thể tích của vùng không gian hình trụ này là: $$\Delta V = A \cdot v \cdot \Delta t$$
Bước 3: Tính số phân tử trong vùng va chạm
Vì $\mu$ là số phân tử trong một đơn vị thể tích, nên tổng số phân tử $N$ nằm trong vùng $\Delta V$ là: $$N = \mu \cdot \Delta V = \mu \cdot A \cdot v \cdot \Delta t$$
Bước 4: Tính số phân tử va chạm trên một đơn vị diện tích trong 1 giây
Số phân tử va chạm với diện tích $A$ trong thời gian $\Delta t$ là $N$. Vậy số phân tử va chạm với một đơn vị diện tích (chia cho $A$) trong một đơn vị thời gian (chia cho $\Delta t$) là: $$n = \frac{N}{A \cdot \Delta t} = \frac{\mu \cdot A \cdot v \cdot \Delta t}{A \cdot \Delta t} = \mu v$$
Kết luận: Như vậy, số phân tử đến va chạm với một đơn vị diện tích thành bình trong 1 giây là $\mu v$, với $v$ là tốc độ trung bình của các phân tử khí và $\mu$ là số phân tử trong một đơn vị thể tích. (Đpcm)
Câu hỏi tr 45 CH 3
Vận dụng Định luật II Newton dưới dạng biến thiên động lượng (xung lượng của lực) và Định luật III Newton (định luật tác dụng và phản tác dụng). Công thức cốt lõi: $\Delta p = F \cdot \Delta t \Rightarrow F = \frac{\Delta p}{\Delta t}$.
Để giải thích vì sao độ lớn lực $F$ trong công thức (3.2) bằng lực do phân tử khí tác dụng lên thành bình, ta lập luận theo các bước sau:
Hình minh họa: Quá trình va chạm đàn hồi của một phân tử khí với thành bình
1. Xét biến thiên động lượng của phân tử khí:
Giả sử một phân tử khí có khối lượng $m$ chuyển động với vận tốc $v_x$ theo phương vuông góc với thành bình. Khi va chạm đàn hồi với thành bình, phân tử bật ngược trở lại với vận tốc $-v_x$.
Độ biến thiên động lượng của phân tử là:
$\Delta p = p_{sau} - p_{trước} = m(-v_x) - m(v_x) = -2mv_x$.
2. Lực do thành bình tác dụng lên phân tử:
Theo Định luật II Newton, lực trung bình $F_{thành \to phân tử}$ mà thành bình tác dụng lên phân tử trong khoảng thời gian va chạm $\Delta t$ là:
$F_{thành \to phân tử} = \frac{\Delta p}{\Delta t} = \frac{-2mv_x}{\Delta t}$.
Độ lớn của lực này là: $|F_{thành \to phân tử}| = \frac{2mv_x}{\Delta t}$.
3. Vận dụng Định luật III Newton:
Khi thành bình tác dụng lên phân tử một lực $F_{thành \to phân tử}$, thì phân tử khí đồng thời tác dụng ngược lại thành bình một lực $F_{phân tử \to thành}$ có cùng độ lớn nhưng ngược chiều:
$F_{phân tử \to thành} = -F_{thành \to phân tử}$.
Do đó, độ lớn của lực do phân tử khí tác dụng lên thành bình chính bằng độ lớn của lực mà thành bình tác dụng lên phân tử.
Kết luận: Vì vậy, công thức (3.2) xác định độ lớn $F = \frac{2mv_x}{\Delta t}$ chính là độ lớn của lực mà mỗi phân tử khí tác dụng lên thành bình khi va chạm.
Câu hỏi tr 46 CH 1
Vận dụng Thuyết động học phân tử chất khí: Các phân tử khí chuyển động hỗn loạn, không ngừng về mọi phía. Do đó, hướng chuyển động của mỗi phân tử là ngẫu nhiên trong không gian ba chiều.
Để trả lời câu hỏi này, ta cần phân tích đặc điểm chuyển động của các phân tử khí trong bình dựa trên lý thuyết động học phân tử:
- Tính chất chuyển động: Trong một bình chứa khí, các phân tử khí không đứng yên mà chuyển động hỗn loạn (chuyển động nhiệt). Các phân tử va chạm với nhau và va chạm với thành bình một cách ngẫu nhiên.
- Hướng chuyển động: Vì chuyển động là hỗn loạn, nên tại mỗi thời điểm, các phân tử sẽ chuyển động theo mọi hướng có thể trong không gian 3 chiều (trục x, y, z và tất cả các hướng trung gian).
- So sánh số lượng: Một 'trục xác định' chỉ là một đường thẳng duy nhất trong vô số các hướng có thể có trong không gian. Xác suất để một phân tử chuyển động chính xác dọc theo một trục xác định là cực kỳ nhỏ.
Hình minh họa: Chuyển động hỗn loạn của các phân tử khí trong bình (Màu đỏ là trục xác định, các mũi tên thể hiện hướng chuyển động ngẫu nhiên)
Kết luận: Số phân tử chuyển động trên một trục xác định là rất ít (không đáng kể) so với tổng số phân tử khí có trong bình. Hầu hết các phân tử chuyển động theo các hướng khác nhau trong không gian.
Câu hỏi tr 46 CH 2
Để chứng minh công thức tính áp suất chất khí, ta vận dụng các kiến thức cốt lõi sau:
- Định luật bảo toàn động lượng (va chạm đàn hồi): Khi phân tử khí va chạm đàn hồi với thành bình, độ biến thiên động lượng là $\Delta p = 2mv_x$.
- Định nghĩa lực: Lực là tốc độ biến thiên của động lượng theo thời gian $F = \frac{\Delta p}{\Delta t}$.
- Định nghĩa áp suất: $p = \frac{F}{S}$ (Lực tác dụng vuông góc lên một đơn vị diện tích).
- Giả thuyết về sự chuyển động hỗn loạn: Trong chất khí, các phân tử chuyển động hỗn loạn theo mọi hướng, nên trung bình $\overline{v_x^2} = \overline{v_y^2} = \overline{v_z^2} = \frac{1}{3}\overline{v^2}$.
Xét một bình hình lập phương cạnh $L$, thể tích $V = L^3$, chứa $N$ phân tử khí, mỗi phân tử có khối lượng $m$.
Hình minh họa: Mô hình phân tử khí chuyển động hỗn loạn trong bình lập phương
Bước 1: Xét một phân tử khí
Giả sử một phân tử chuyển động với vận tốc $\vec{v} = (v_x, v_y, v_z)$. Khi va chạm đàn hồi với thành bình vuông góc với trục $Ox$, vận tốc theo phương $x$ đổi chiều từ $v_x$ thành $-v_x$.
Độ biến thiên động lượng của phân tử là: $\Delta p_x = m(-v_x) - mv_x = -2mv_x$.
Theo định luật bảo toàn động lượng, lực mà phân tử tác dụng lên thành bình có độ lớn là: $\Delta p_{wall} = 2mv_x$.
Bước 2: Tính lực trung bình của một phân tử
Thời gian giữa hai lần va chạm liên tiếp vào cùng một thành bình là: $\Delta t = \frac{2L}{v_x}$.
Lực trung bình mà một phân tử tác dụng lên thành bình là:
$F_1 = \frac{\Delta p_{wall}}{\Delta t} = \frac{2mv_x}{2L/v_x} = \frac{mv_x^2}{L}$
Bước 3: Tính áp suất do $N$ phân tử
Tổng lực tác dụng lên thành bình diện tích $S = L^2$ là tổng lực của $N$ phân tử: $F = \sum_{i=1}^{N} \frac{mv_{xi}^2}{L} = \frac{m}{L} \sum_{i=1}^{N} v_{xi}^2$.
Áp suất $p$ là lực trên một đơn vị diện tích:
$p = \frac{F}{S} = \frac{m}{L \cdot L^2} \sum_{i=1}^{N} v_{xi}^2 = \frac{m}{L^3} \sum_{i=1}^{N} v_{xi}^2 = \frac{m}{V} \sum_{i=1}^{N} v_{xi}^2$
Bước 4: Sử dụng giá trị trung bình và tính đẳng hướng
Ta có bình phương vận tốc trung bình theo phương $x$ là: $\overline{v_x^2} = \frac{1}{N} \sum_{i=1}^{N} v_{xi}^2 \implies \sum_{i=1}^{N} v_{xi}^2 = N\overline{v_x^2}$.
Thay vào công thức áp suất: $p = \frac{m N \overline{v_x^2}}{V} = \mu m \overline{v_x^2}$ (với $\mu = \frac{N}{V}$ là số phân tử trong một đơn vị thể tích).
Vì các phân tử chuyển động hỗn loạn không ưu tiên hướng nào, nên: $\overline{v_x^2} = \overline{v_y^2} = \overline{v_z^2}$.
Mà $\overline{v^2} = \overline{v_x^2} + \overline{v_y^2} + \overline{v_z^2} = 3\overline{v_x^2} \implies \overline{v_x^2} = \frac{1}{3}\overline{v^2}$.
Kết luận: Thay $\overline{v_x^2}$ vào biểu thức áp suất, ta được công thức cần chứng minh:
Câu hỏi tr 46 LT
Để xác định giá trị trung bình của bình phương tốc độ các phân tử không khí, ta vận dụng công thức liên hệ giữa áp suất chất khí, khối lượng riêng và tốc độ phân tử từ thuyết động học phân tử:
P = 1/3 ρv2
Trong đó:
- P: Áp suất chất khí (Pa).
- ρ: Khối lượng riêng của chất khí (kg/m3).
- v2: Giá trị trung bình của bình phương tốc độ các phân tử (m2/s2).
1. Tóm tắt các thông số đề bài:
- Áp suất: P = 105 Pa
- Khối lượng riêng: ρ = 1,29 kg/m3
- Tìm: Giá trị trung bình của bình phương tốc độ phân tử (&overline{v2})
Hình minh họa: Các phân tử khí chuyển động nhiệt hỗn loạn tạo nên áp suất lên thành bình
2. Lập luận và tính toán:
Từ công thức cơ bản của thuyết động học phân tử:
P = 1/3 ρ &overline{v2}
Ta rút ra công thức tính giá trị trung bình của bình phương tốc độ phân tử:
&overline{v2} = 3P / ρ
Thay các giá trị đã cho vào công thức:
&overline{v2} = (3 × 105}) / 1,29
&overline{v2} ≈ 232 558,14 (m2/s2)
3. Kết luận:
Giá trị trung bình của bình phương tốc độ các phân tử không khí ở điều kiện nhiệt độ phòng và áp suất 105 Pa là khoảng 2,33 × 105 m2/s2.
Câu hỏi tr 47 CH
Để rút ra công thức (3.6), ta vận dụng các kiến thức cốt lõi sau:
- Công thức áp suất chất khí (3.3): Biểu diễn áp suất $p$ theo số phân tử, khối lượng phân tử và bình phương vận tốc trung bình: $p = \frac{1}{3} \frac{N m \overline{v^2}}{V}$.
- Động năng trung bình của phân tử: Định nghĩa động năng trung bình của một phân tử là $\overline{E_d} = \frac{1}{2} m \overline{v^2}$.
- Phương trình trạng thái khí lí tưởng: Ở cấp độ phân tử, phương trình trạng thái được viết là $pV = NkT$, trong đó $k$ là hằng số Boltzmann.
Để thực hiện biến đổi từ công thức (3.3) và phương trình trạng thái khí lí tưởng để rút ra công thức (3.6), ta tiến hành theo các bước lập luận chặt chẽ sau:
Hình minh họa: Mô hình các phân tử khí chuyển động hỗn loạn trong bình thể tích V tạo ra áp suất p
Bước 1: Xuất phát từ công thức (3.3) biểu diễn áp suất chất khí:
$p = \frac{1}{3} \frac{N m \overline{v^2}}{V}$ (1)
Nhân cả hai vế của phương trình (1) với thể tích $V$, ta được:
$pV = \frac{1}{3} N m \overline{v^2}$ (2)
Bước 2: Xét biểu thức động năng trung bình của một phân tử khí:
$\overline{E_d} = \frac{1}{2} m \overline{v^2} \implies m \overline{v^2} = 2\overline{E_d}$ (3)
Thay biểu thức (3) vào phương trình (2), ta có mối liên hệ giữa áp suất, thể tích và động năng trung bình:
$pV = \frac{1}{3} N (2\overline{E_d}) = \frac{2}{3} N \overline{E_d}$ (4)
Bước 3: Theo phương trình trạng thái của khí lí tưởng cho $N$ phân tử:
$pV = NkT$ (5)
Trong đó $k$ là hằng số Boltzmann ($k \approx 1,38 \times 10^{-23} \text{ J/K}$).
Bước 4: Từ (4) và (5), vì cả hai biểu thức đều bằng $pV$, ta cho chúng bằng nhau:
$\frac{2}{3} N \overline{E_d} = NkT$
Triệt tiêu $N$ ở cả hai vế, ta thu được:
$\frac{2}{3} \overline{E_d} = kT \implies \overline{E_d} = \frac{3}{2} kT$
Kết luận: Đây chính là công thức (3.6), cho thấy động năng trung bình của phân tử khí lí tưởng chỉ phụ thuộc vào nhiệt độ tuyệt đối $T$ của khối khí.
Câu hỏi tr 47 LT
Vận dụng mối liên hệ giữa động năng trung bình của phân tử khí và nhiệt độ tuyệt đối. Sử dụng công thức tính tốc độ căn trung bình bình phương (root-mean-square speed) của phân tử khí lí tưởng: $v_{rms} = \sqrt{\frac{3RT}{M}}$, trong đó $T$ là nhiệt độ tuyệt đối. Từ đó, thiết lập mối quan hệ tỉ lệ giữa tốc độ phân tử và căn bậc hai của nhiệt độ tuyệt đối: $v \propto \sqrt{T}$.
Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần phân tích mối liên hệ giữa nhiệt độ và tốc độ của các phân tử khí lí tưởng dựa trên thuyết động học phân tử.
1. Cơ sở lí thuyết:
Theo thuyết động học phân tử, động năng trung bình của một phân tử khí lí tưởng tỉ lệ thuận với nhiệt độ tuyệt đối của khối khí theo công thức:
$$\\bar{E}_k = \\frac{3}{2}kT$$
Trong đó: $k$ là hằng số Boltzmann. Mặt khác, động năng của một phân tử có khối lượng $m$ chuyển động với tốc độ $v$ được tính bởi:
$$\\bar{E}_k = \\frac{1}{2}m v_{rms}^2$$
Từ hai biểu thức trên, ta có:
$$\\frac{1}{2}m v_{rms}^2 = \\frac{3}{2}kT \\implies v_{rms} = \\sqrt{\frac{3kT}{m}}$$
Hình minh họa: So sánh độ dài vectơ vận tốc của phân tử khí khi tăng nhiệt độ từ 300 K lên 600 K
\n2. Tính toán cụ thể:
Gọi $v_1$ là tốc độ căn trung bình bình phương ở nhiệt độ $T_1 = 300\text{ K}$ và $v_2$ là tốc độ căn trung bình bình phương ở nhiệt độ $T_2 = 600\text{ K}$.
Ta có tỉ số:
$$\\frac{v_2}{v_1} = \\sqrt{\\frac{T_2}{T_1}} = \\sqrt{\\frac{600}{300}} = \\sqrt{2} \\approx 1,41$$
3. Kết luận:
Khi tăng nhiệt độ tuyệt đối của một lượng khí lí tưởng lên gấp đôi (từ $300\text{ K}$ đến $600\text{ K}$), tốc độ của các phân tử khí chỉ tăng lên khoảng $\\sqrt{2}$ lần (tức là tăng thêm khoảng $41\\%$), chứ không tăng gấp đôi. Điều này là do tốc độ tỉ lệ với căn bậc hai của nhiệt độ tuyệt đối, trong khi động năng mới là đại lượng tỉ lệ thuận trực tiếp với nhiệt độ.
Câu hỏi tr 48 VD
Vận dụng công thức động năng trung bình của phân tử khí lí tưởng: $\overline{E}_k = \frac{3}{2}k_B T = \frac{1}{2}m\overline{v^2}$. Trong đó $k_B$ là hằng số Boltzmann, $T$ là nhiệt độ tuyệt đối và $m$ là khối lượng của một phân tử. Tại cùng một nhiệt độ, động năng trung bình của các phân tử khí là như nhau, do đó giá trị $\overline{v^2}$ tỉ lệ nghịch với khối lượng phân tử $m$.
1. Lập luận bản chất vật lí:
Vì các khí nitrogen ($\text{N}_2$), oxygen ($\text{O}_2$), và carbon dioxide ($\text{CO}_2$) cùng tồn tại trong không khí, chúng ở trạng thái cân bằng nhiệt, nghĩa là có cùng nhiệt độ $T$.
Theo thuyết động học phân tử, động năng trung bình của phân tử khí chỉ phụ thuộc vào nhiệt độ tuyệt đối của khí theo công thức:
$\overline{E}_k = \frac{3}{2}k_B T$
Mặt khác, động năng của một phân tử khối lượng $m$ chuyển động với tốc độ bình phương trung bình $\overline{v^2}$ được tính bằng: $\overline{E}_k = \frac{1}{2}m\overline{v^2}$.
Từ hai biểu thức trên, ta có:
$\frac{1}{2}m\overline{v^2} = \frac{3}{2}k_B T \implies \overline{v^2} = \frac{3k_B T}{m}$
Vì $3k_B T$ là hằng số đối với cả ba loại khí trong cùng một môi trường không khí, nên giá trị $\overline{v^2}$ tỉ lệ nghịch với khối lượng phân tử $m$.
Hình minh họa: Sự tỉ lệ nghịch giữa khối lượng phân tử và tốc độ trung bình tại cùng nhiệt độ
2. So sánh cụ thể:
Xét khối lượng mol (M) của các chất khí:
- $M(\text{N}_2) \approx 28 \text{ g/mol}$
- $M(\text{O}_2) \approx 32 \text{ g/mol}$
- $M(\text{CO}_2) \approx 44 \text{ g/mol}$
Ta thấy: $m(\text{N}_2) < m(\text{O}_2) < m(\text{CO}_2)$.
Vì $\overline{v^2}$ tỉ lệ nghịch với $m$, ta suy ra kết luận về giá trị bình phương tốc độ trung bình:
$\overline{v^2}(\text{N}_2) > \overline{v^2}(\text{O}_2) > \overline{v^2}(\text{CO}_2)$
Kết luận: Trong không khí, phân tử nitrogen có tốc độ bình phương trung bình lớn nhất, tiếp theo là oxygen và nhỏ nhất là carbon dioxide.
Lý thuyết
Lý thuyết tổng hợp
I. Áp suất chất khí
1. Bản chất của áp suất chất khí
Theo mô hình động học phân tử, các phân tử khí chuyển động hỗn loạn không ngừng. Khi va chạm với thành bình, chúng truyền động lượng cho thành bình, tạo ra một lực tác dụng vuông góc lên diện tích bề mặt, từ đó gây ra áp suất.
2. Công thức tính áp suất
Áp suất do một lượng khí lí tưởng gây ra lên thành bình được xác định bởi công thức:
\(p = \frac{1}{3}\frac{Nm\overline{v^2}}{V}\)
- \(p\): Áp suất chất khí.
- \(N\): Tổng số phân tử khí trong bình.
- \(m\): Khối lượng của một phân tử khí.
- \(\overline{v^2}\): Giá trị trung bình bình phương tốc độ của các phân tử.
- \(V\): Thể tích của bình chứa.
Ngoài ra, áp suất có thể được tính thông qua khối lượng riêng \(\rho\) của chất khí:
\(p = \frac{1}{3}\rho \overline{v^2}\)
II. Động năng phân tử khí lí tưởng
1. Mối liên hệ giữa động năng và nhiệt độ
Từ phương trình trạng thái khí lí tưởng \(pV = nRT\), động năng tịnh tiến trung bình của một phân tử khí lí tưởng tỉ lệ thuận với nhiệt độ tuyệt đối của khối khí.
2. Hằng số Boltzmann
Hằng số Boltzmann \(k\) được định nghĩa là tỉ số giữa hằng số khí lý tưởng \(R\) và số Avogadro \(N_A\):
\(k = \frac{R}{N_A} \approx 1,38 \cdot 10^{-23} \text{ J/K}\)
3. Công thức tính động năng trung bình
Động năng tịnh tiến trung bình của phân tử khí lí tưởng được tính bằng:
\(W_d = \frac{m\overline{v^2}}{2} = \frac{3}{2}kT\)
- \(W_d\): Động năng tịnh tiến trung bình của một phân tử (J).
- \(k\): Hằng số Boltzmann (\(1,38 \cdot 10^{-23} \text{ J/K}\)).
- \(T\): Nhiệt độ tuyệt đối của chất khí (K).
Lưu ý: Công thức trên chỉ tính đến động năng tịnh tiến, chưa xét đến chuyển động quay của phân tử khí.