Bài 1. Mô hình động học phân tử chất khí trang 32, 33, 34 Vật Lí 12 Cánh diều
Khói thuốc lá sẽ gây ảnh hưởng trong phạm vi bán kính 7 - 10 m. Những người ở trong khoảng cách này với người hút thuốc sẽ hít phải khói thuốc, trở thành người hút thuốc thụ động và cũng gặp những nguy cơ về sức khỏe. Tại sao khói thuốc có thể lan rộng đến thế trong không khí?
Câu hỏi tr 32 CHMĐ
Để giải thích hiện tượng này, chúng ta vận dụng Mô hình động học phân tử chất khí, cụ thể là hiện tượng khuếch tán. Bản chất là sự chuyển động hỗn loạn, không ngừng của các phân tử chất khí và sự va chạm giữa chúng với các hạt khói.
Hiện tượng khói thuốc lá lan rộng trong không khí có thể được giải thích chi tiết thông qua các bước lập luận sau:
- Bản chất của khói thuốc: Khói thuốc lá không phải là một chất khí đồng nhất mà là một hệ keo, bao gồm các hạt chất rắn và lỏng cực nhỏ lơ lửng trong không khí.
- Chuyển động nhiệt của phân tử khí: Theo mô hình động học phân tử, các phân tử khí (như $\text{N}_2, \text{O}_2$ trong không khí) không đứng yên mà luôn chuyển động hỗn loạn, không ngừng về mọi phía với tốc độ rất lớn.
- Cơ chế va chạm (Chuyển động Brown): Các phân tử không khí chuyển động hỗn loạn này liên tục va chạm vào các hạt khói thuốc từ mọi phía. Vì các va chạm này không cân bằng tại mỗi thời điểm, chúng tạo ra lực đẩy khiến các hạt khói bị đẩy đi xa dần khỏi nguồn phát (điếu thuốc).
- Hiện tượng khuếch tán: Do sự chênh lệch nồng độ (tại nguồn khói nồng độ rất cao, xa nguồn nồng độ thấp), các hạt khói có xu hướng lan tỏa từ vùng có nồng độ cao sang vùng có nồng độ thấp. Quá trình này diễn ra liên tục cho đến khi khói phân bố rộng ra trong không gian.
Kết luận: Chính nhờ sự chuyển động hỗn loạn không ngừng của các phân tử không khí mà các hạt khói thuốc bị đẩy đi xa, tạo nên hiện tượng khuếch tán rộng trong phạm vi từ 7 - 10 m, khiến những người xung quanh hít phải và trở thành người hút thuốc thụ động.
Câu hỏi tr 33 CH 1
Vận dụng lí thuyết về chuyển động Brown: Chuyển động Brown là chuyển động hỗn loạn không ngừng của các hạt rất nhỏ (như hạt phấn hoa) khi lơ lửng trong chất lỏng hoặc chất khí. Nguyên nhân là do các phân tử chất lỏng/khí chuyển động nhiệt hỗn loạn, va chạm vào hạt phấn hoa từ mọi phía. Vì hạt phấn hoa rất nhỏ, các va chạm này không cân bằng nhau, tạo ra hợp lực làm hạt chuyển động zig-zag.
Để trả lời câu hỏi: 'Nếu các hạt phấn hoa có kích thước lớn hơn nữa, ta có thể quan sát được chuyển động Brown không, vì sao?', ta lập luận như sau:
1. Bản chất của chuyển động Brown: Các hạt phấn hoa chuyển động được là nhờ sự chênh lệch về số lần va chạm và cường độ va chạm của các phân tử môi trường (nước, không khí) lên các mặt đối diện của hạt tại một thời điểm nhất định. Khi hạt có kích thước đủ nhỏ, sự mất cân bằng này đủ lớn để tạo ra một hợp lực làm thay đổi vận tốc của hạt.
Hình minh họa: So sánh sự tác động của các phân tử môi trường lên hạt nhỏ và hạt lớn
2. Khi kích thước hạt tăng lên:
- Sự cân bằng lực: Diện tích bề mặt của hạt tăng lên, dẫn đến số lượng phân tử môi trường va chạm vào hạt trong một đơn vị thời gian tăng mạnh. Khi đó, xu hướng triệt tiêu lẫn nhau của các lực va chạm từ các phía đối diện sẽ xảy ra mạnh mẽ hơn. Hợp lực $\vec{F}_{hl}$ tác dụng lên hạt trở nên rất nhỏ so với khối lượng của hạt.
- Quán tính: Khối lượng của hạt tăng lên làm tăng quán tính. Theo định luật II Newton ($a = F/m$), với cùng một hợp lực nhỏ, gia tốc $a$ mà hạt nhận được sẽ cực kỳ bé.
Kết luận: Nếu các hạt phấn hoa có kích thước lớn hơn nữa, chúng ta không thể quan sát được chuyển động Brown. Khi đó, hạt sẽ chuyển động rất chậm hoặc đứng yên (về mặt cảm quan) vì các tác động nhiệt từ các phân tử môi trường đã bị trung hòa lẫn nhau và quán tính của hạt quá lớn để có thể bị dịch chuyển một cách rõ rệt.
Câu hỏi tr 33 CH 2
Vận dụng công thức tính động năng của một hạt: K = ½mv². Khi hai hạt có cùng động năng, tốc độ của chúng sẽ tỉ lệ nghịch với căn bậc hai của khối lượng: v ∝ 1/√m. Từ đó, hạt có khối lượng càng nhỏ thì tốc độ chuyển động càng lớn để duy trì cùng một giá trị động năng.
Để so sánh tốc độ của phân tử nước và hạt phấn hoa khi chúng có cùng động năng, ta thực hiện các bước lập luận sau:
1. Thiết lập công thức:
Gọi mnước và vnước lần lượt là khối lượng và tốc độ của phân tử nước. Gọi mphấn hoa và vphấn hoa lần lượt là khối lượng và tốc độ của hạt phấn hoa.
Theo đề bài, động năng của hai hạt bằng nhau:
Knước = Kphấn hoa
⇒ ½ mnước . vnước² = ½ mphấn hoa . vphấn hoa²
2. So sánh khối lượng:
Về mặt bản chất vật lí, phân tử nước là một hạt cực kì nhỏ bé, trong khi hạt phấn hoa là một hạt vi mô nhưng có kích thước lớn hơn phân tử nước rất nhiều lần (hạt phấn hoa bao gồm hàng tỉ phân tử). Do đó, khối lượng của hạt phấn hoa lớn hơn rất nhiều so với khối lượng của một phân tử nước:
mphấn hoa ≫ mnước
Hình minh họa: So sánh khối lượng và tốc độ khi động năng bằng nhau
3. Biện luận tốc độ:
Từ biểu thức mnước . vnước² = mphấn hoa . vphấn hoa², ta suy ra tỉ số tốc độ:
(vnước / vphấn hoa)² = mphấn hoa / mnước
Vì mphấn hoa / mnước ≫ 1, nên vnước² ≫ vphấn hoa², dẫn đến vnước ≫ vphấn hoa.
Kết luận: Với cùng một giá trị động năng, vì khối lượng của phân tử nước nhỏ hơn rất nhiều so với khối lượng của hạt phấn hoa, nên tốc độ của phân tử nước sẽ lớn hơn rất nhiều so với tốc độ của hạt phấn hoa.
Câu hỏi tr 33 LT
Vận dụng mô hình động học phân tử chất khí, trọng tâm là hiện tượng khuếch tán (diffusion): Các phân tử chất khí luôn chuyển động hỗn loạn, không ngừng về mọi phía, khiến chúng tự lan tỏa từ vùng có nồng độ cao sang vùng có nồng độ thấp cho đến khi phân bố đều trong không gian.
Hiện tượng cảm nhận được mùi thơm khắp phòng sau khi xịt nước hoa ở một góc có thể được giải thích chi tiết như sau:
- Sự hóa hơi: Khi xịt nước hoa, các phân tử chất thơm (ở dạng lỏng) nhanh chóng bay hơi và biến thành các phân tử chất khí.
- Chuyển động nhiệt: Theo mô hình động học phân tử, các phân tử khí nước hoa này không đứng yên mà chuyển động hỗn loạn, không ngừng về mọi hướng với vận tốc rất lớn.
- Va chạm và lan tỏa: Trong quá trình chuyển động, các phân tử nước hoa va chạm với các phân tử không khí và va chạm với nhau. Những va chạm này khiến chúng bị đẩy ra xa nguồn xịt ban đầu, lan dần từ nơi có nồng độ cao (góc phòng) sang những nơi có nồng độ thấp hơn.
- Kết quả: Quá trình này được gọi là sự khuếch tán. Sau một khoảng thời gian, các phân tử nước hoa sẽ phân bố tương đối đều khắp thể tích phòng, cho phép mũi của chúng ta (ở bất kỳ vị trí nào trong phòng) có thể tiếp nhận được các phân tử mùi hương này.
Hình minh họa: Sự lan tỏa (khuếch tán) của các phân tử nước hoa từ góc phòng ra toàn bộ không gian.
Kết luận: Nhờ chuyển động nhiệt hỗn loạn không ngừng của các phân tử khí, mùi nước hoa được khuếch tán rộng khắp phòng.
Câu hỏi tr 34 LT
Để ước tính số lần va chạm của một phân tử khí vào thành bình trong một đơn vị thời gian, ta áp dụng kiến thức về chuyển động thẳng đều:
- Quãng đường giữa hai lần va chạm liên tiếp: Khi phân tử chuyển động qua tâm của bình cầu, quãng đường giữa hai lần va chạm liên tiếp vào thành bình chính là đường kính của bình cầu ($d$).
- Công thức tính thời gian: Thời gian giữa hai lần va chạm liên tiếp là $\Delta t = \frac{d}{v}$.
- Số lần va chạm trong một giây: $n = \frac{1}{\Delta t} = \frac{v}{d}$.
1. Phân tích bài toán:
- Đường kính bình cầu: $d = 0,20\text{ m}$.
- Tốc độ phân tử oxygen: $v = 400\text{ m/s}$ (không đổi).
- Phân tử chuyển động qua tâm bình cầu, nghĩa là nó di chuyển theo đường kính của hình cầu từ thành bên này sang thành bên kia và ngược lại.
Hình minh họa: Mô phỏng phân tử oxygen chuyển động qua tâm bình cầu
2. Các bước tính toán:
Bước 1: Tính khoảng thời gian $\Delta t$ giữa hai lần va chạm liên tiếp vào thành bình:
$\Delta t = \frac{d}{v} = \frac{0,20}{400} = 0,0005\text{ (s)}$
Bước 2: Ước tính số lần va chạm trong mỗi giây ($n$):
$n = \frac{1}{\Delta t} = \frac{1}{0,0005} = 2000\text{ (lần/giây)}$
3. Kết luận:
Trong mỗi giây, phân tử oxygen này va chạm vào thành bình chứa khoảng 2000 lần.
Câu hỏi tr 34 CH
Phương pháp giải: Áp dụng các nguyên lý cơ bản của mô hình động học phân tử chất khí để đối chiếu với các đặc điểm định nghĩa của khí lí tưởng. Tập trung vào hai khía cạnh chính: kích thước của phân tử và tương tác giữa các phân tử.
Khí lí tưởng là một mô hình lý thuyết được xây dựng nhằm đơn giản hóa việc nghiên cứu chất khí. Để mô tả các đặc điểm của khí lí tưởng, mô hình động học phân tử chất khí cung cấp các nội dung tương ứng như sau:
Hình minh họa: Các phân tử khí lí tưởng được coi là các chất điểm chuyển động độc lập
Cụ thể, sự tương ứng được thể hiện qua bảng phân tích sau:
| Đặc điểm của khí lí tưởng | Nội dung tương ứng của mô hình động học phân tử |
|---|---|
| Các phân tử khí được coi là các chất điểm. | Kích thước của phân tử khí rất nhỏ so với khoảng cách trung bình giữa các phân tử, nên thể tích của bản thân các phân tử có thể bỏ qua. |
| Bỏ qua tương tác giữa các phân tử khi không va chạm. | Lực hút và lực đẩy giữa các phân tử khí là không đáng kể khi chúng ở xa nhau; chúng chỉ tương tác với nhau (và với thành bình) thông qua các va chạm đàn hồi. |
Kết luận: Việc áp dụng mô hình động học phân tử giúp chúng ta lý tưởng hóa chất khí bằng cách xem chúng là tập hợp các chất điểm không tương tác, từ đó xây dựng nên các phương trình trạng thái đơn giản (như phương trình Clapeyron-Mendeleev) để mô tả tính chất vĩ mô của chất khí.
Câu hỏi tr 35 VD
Để trả lời câu hỏi này, ta vận dụng các kiến thức cốt lõi sau:
- Mô hình động học phân tử: Các phân tử khí chuyển động hỗn loạn, không ngừng về mọi phía.
- Áp suất chất khí: Áp suất do chất khí gây ra lên thành bình (hoặc thành bong bóng) là kết quả của sự va chạm của các phân tử khí lên thành bình.
- Tính đẳng hướng: Vì chuyển động là hỗn loạn và ngẫu nhiên, nên trong một khối khí ở trạng thái cân bằng, áp suất tác dụng lên mọi điểm trên bề mặt bao quanh là như nhau (không có phương ưu tiên).
Kết luận: Ý kiến này là ĐÚNG.
Giải thích chi tiết:
1. Bản chất chuyển động của phân tử khí: Theo mô hình động học phân tử, các phân tử khí chuyển động nhiệt hỗn loạn. Điều này có nghĩa là tại mọi thời điểm, các phân tử chuyển động theo mọi hướng ngẫu nhiên, không có một hướng nào được ưu tiên hơn hướng nào.
2. Sự hình thành áp suất: Khi các phân tử khí va chạm với thành trong của bong bóng, chúng truyền động lượng cho thành bong bóng, tạo ra áp suất. Vì các phân tử chuyển động hỗn loạn về mọi phía, số lượng va chạm và cường độ va chạm lên mọi điểm trên bề mặt trong của bong bóng là tương đương nhau.
3. Mối liên hệ với hình dạng: Áp suất khí bên trong bong bóng tác dụng vuông góc với bề mặt và có độ lớn đồng nhất tại mọi điểm. Kết hợp với áp suất từ môi trường bên ngoài và lực căng bề mặt (có xu hướng co lại để đạt diện tích bề mặt nhỏ nhất), kết quả là bong bóng khí sẽ có dạng hình cầu.
Nếu có một 'phương ưu tiên' (ví dụ: tất cả phân tử đều có xu hướng chuyển động mạnh hơn theo trục ngang), áp suất lên hai cực ngang của bong bóng sẽ lớn hơn hai cực dọc, khiến bong bóng bị biến dạng (hình oval) thay vì hình cầu.
Hình minh họa: Sự phân bố va chạm ngẫu nhiên của phân tử khí tạo nên hình cầu
Kết luận cuối cùng: Hình dạng hình cầu của bong bóng khí chính là bằng chứng vĩ mô cho chuyển động hỗn loạn, không có phương ưu tiên của các phân tử khí ở cấp độ vi mô.
Lý thuyết
Bài 1. Mô hình động học phân tử chất khí
I. Đặc điểm chuyển động của các phân tử khí
- Năm 1827, khi quan sát các hạt phấn hoa trong nước bằng kính hiển vi Robert Brown (Rô-bớt Braono, 1773 - 1858) đã nhận thấy chúng chuyển động không ngừng. Ghi lại vị trí của hạt phấn hoa sau những khoảng thời gian xác định, rồi nối các điểm đó lại, ta được một đường gấp khúc không theo một trật tự nào
- Khi nhiệt độ của nước tăng thì các hạt phấn hoa cũng chuyển động nhanh hơn. Chuyển động như vậy của các hạt phấn hoa được gọi là chuyển động Brown. Đây là một hiện tượng giúp ta hình dung được về chuyển động phân tử
- Einstein (Anh-xtanh) đã giải thích chuyển động Brown như sau:
+ Các hạt phấn hoa bị các phân tử nước chuyển động hỗn loạn va đập vào từ mọi phía
+ Các phân tử nước có kích thước nhỏ hơn nhiều lần so với hạt phấn hoa và tại một thời điểm, số va đập trung bình của các phân tử nước vào hai phía đối diện bất kì của hạt phấn hoa không bằng nhau. Điều này gây nên chênh lệch áp lực và làm cho hạt phấn hoa chuyển động. Hai phía đối diện có chênh lệch áp lực là bất kì nên chuyển động của hạt phấn hoa không có phương ưu tiên.
+ Nhiệt độ của nước càng cao thì các phân tử nước chuyển động càng nhanh và càng hỗn loạn hơn, nên hạt phấn hoa cũng sẽ chuyển động nhanh hơn và hỗn loạn hơn.
- Từ đó, ta có thể rút ra đặc điểm chuyển động của các phân tử khí như sau:
• Các phân tử khí chuyển động hỗn loạn, không ngừng.
• Nhiệt độ càng cao, các phân tử khí chuyển động càng nhanh. Thực tế thì với không khí ở điều kiện tiêu chuẩn (nhiệt độ 0C° và áp suất 1tam), tốc độ trung bình của các phân tử khí khoảng 400 m/s. Ta chỉ xác định được tốc độ trung bình vì tại mỗi thời điểm bất kì một số phân tử không khí có tốc độ lớn hơn ốtc độ này và một số phân tử khác lại có tốc độ nhỏ hơn.
II. Mô hình động học phân tử chất khí
1. Mô hình
Người ta đưa ra mô hình động học phân tử cho chất khí gồm các nội dung sau:
+ Các phân tử khí ở xa nhau, khoảng cách giữa chúng rất lớn so với kích thước mỗi phân tử nên có thế bỏ qua kích thước của chúng.
+ Các phân tử chất khí chuyển động hỗn loạn, không ngừng. Chuyển động này càng nhanh thì nhiệt độ chất khí càng cao.
+ Khi chuyển động hỗn loạn, các phân tử va chạm vào nhau và va chạm vào thành bình chứa khí.
+ Các phân tử khí va chạm vào thành bình gây ra áp suất lên thành bình chứa khí
2. Khí lí tưởng
- Các nội dung của thuyết động học phân tử chất khí mô tả các đặc điểm của chất khí lí tưởng. Ta có thể coi một chất khí ở điều kiện nhiệt độ và áp suất khí quyển bình thường gần đúng là một khí lí tưởng. Mô hình khí lí tưởng có thể giải thích được nhiều kết quả nghiên cứu thực nghiệm chất khí ở nhiệt độ phòng và áp suất khí quyển.
- Mô hình khí lí tưởng gồm các nội dung sau:
+ Các phân tử khí ở xa nhau, khoảng cách giữa chúng rất lớn so với kích thước mỗi phân tử nên có thể bỏ qua kích thước của chúng
+ Khi chưa va chạm, lực tương tác giữa các phân tử khí rất yếu, nên có thể bỏ qua.
+ Giữa hai va chạm liên tiếp, phân tử khí lí tưởng chuyển động thẳng đều.
+ Khi va chạm vào thành bình chứa, phân tử khí truyền động lượng cho thành bình và bị bật ngược trở lại. Va chạm của các phân tử khí với nhau và với thành bình là va chạm hoàn toàn đàn hồi
Sơ đồ tư duy về “Mô hình động học phân tử chất khí”