Đề thi học kì 1 Văn 11 Cánh diều - Đề số 2
Tổng quan nội dung
Đề thi học kì 1 Văn 11 Cánh diều - Đề số 2: Chuẩn bị tốt nhất cho kỳ thi
Tusach.vn xin giới thiệu Đề thi học kì 1 Văn 11 Cánh diều - Đề số 2, được biên soạn theo chuẩn cấu trúc đề thi của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đề thi này là tài liệu ôn tập lý tưởng giúp học sinh làm quen với dạng đề và rèn luyện kỹ năng làm bài.
Đề thi bao gồm các câu hỏi trắc nghiệm và tự luận, tập trung vào các kiến thức trọng tâm của chương trình học kì 1 môn Văn học lớp 11.
Đề thi học kì 1 Văn 11 bộ sách Cánh diều đề số 2 được biên soạn theo hình thức trắc nghiệm và tự luận có lời giải chi tiết giúp các em ôn tập hiệu quả chuẩn bị cho bài kiểm tra trên lớp
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 11; Năm học 2022 - 2023
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
Đời tôi, đi đây đó đã nhiều, nhưng lại rất hiếm dịp được thấy Hà Nội. Chỉ một lần thuở bé, rồi một lần hồi chiến tranh, và mấy năm sau này thêm đôi lần nữa. Thành thử, ở Hà Nội, ngoài hồ Hoàn Kiếm với cầu Long Biên, tôi chỉ đại khái biết một ngôi nhà là nhà ga Hàng Cỏ và một con đường là đường xe điện. Nhưng, mặc dù như vậy, mỗi khi nhắm mắt lại nhìn sâu vào những nẻo đường của ký ức, bao giờ tôi cũng thấy hiện lên, tuy rất đỗi mơ hồ, bóng dáng của Hà Nội phố xá. Cái thành phố sâu thẳm, xa lạ, chẳng chút thân thuộc ấy, từ lâu lắm rồi đã lẳng lặng ăn vào đời tôi như là một trong những miền đất thân yêu nhất, dẫu rằng đấy là một tình thân yêu tưởng như không đâu, một duyên nợ hầu như vô cớ. Không hẳn là một nỗi niềm mà chỉ là bâng quơ một cảm giác, không thành một câu chuyện mà chỉ như là một nốt sầu còn vương lại của thời trai trẻ chiến tranh, một thời tuổi trẻ đã hoàn toàn mai một nhưng dư âm vọng suốt đời. Như tiếng mưa rơi. Như tiếng gió lùa. Như tiếng lá rụng. Mà không bao giờ quên.
Từ bấy tới nay, thời gian mất đi đã hai chục năm tròn. Hà Nội thuở đó với Hà Nội bây giờ có lẽ đã như là một trời một vực.
Ngày ấy, từ mặt trận Quảng Trị, tôi lái xe đưa chỉ huy sư đoàn ra họp Bộ tư lệnh đang đóng ở rìa thủ đô. Khi chúng tôi ra tới nơi, thành phố đang ngất trời bom đạn. Đây thực sự là cuộc đụng đầu sống mái, một trận quyết chiến vì lẽ mất còn. Giữa huống cảnh chung nước sôi lửa bỏng như thế, chẳng dám màng gì một chuyến về quê, tôi chỉ xin được rảo vào phố để rải non chục lá thư của anh em đồng đội người Hà Nội đã gửi gắm. Tôi muốn trao thư tận tay các gia đình, để có thể nhận được ngay hồi âm mang ngược vào đơn vị cho lính ta sướng. Lựa ngày Nô-en, cấp trên thuận cho tranh thủ. Hạn đến 0 giờ phải trở về trình diện.
Tôi vào thành phố, dưới mưa chiều. Mưa phùn mùa đông buồn bã. Mái nhà, lòng đường, vòm cây một mầu thẫm ướt. Xe cộ phóng rất nhanh, người đi bộ gấp bước.
Mặc dù không biết phố nào vào với phố nào, lại ôm trong mình những chín lá thư, nhưng thoạt đầu tôi nghĩ không việc gì phải lo. Chỉ cần hỏi tới một địa chỉ, rồi từ đấy lần lượt nhờ người ở địa chỉ trước đưa mình đến địa chỉ sau. Không dè, rốt cuộc, cả chín lá thư tôi đều phải lùa vào phòng qua khe cửa. Ngày hôm ấy, dường như cả Hà Nội đã khoá trái cửa, bỏ nhà đấy mà đi.
Xong được lá thư chót, trời đã tối sầm. Phố dài vắng ngắt ngâm mình trong mưa, tù mù những vùng đèn đường. Tôi hỏi được về Vọng. Một anh dân phòng diện ủng, vận áo tơi bạt, tận tình dẫn tôi đi một đoạn khá xa đường. Đến ngã ba nọ, trước khi chia tay, anh chỉ xuống cặp ray đường tầu điện chạy sát vỉa hè và bảo tôi cứ bám theo đó mà đi là đến.
Sụp mũ cối xuống, dựng cổ áo lên, tôi lần sâu vào trong màn mưa phùn mờ mỏng dưới trời đêm lạnh buốt. Hai vệt ray loáng ướt, chẳng khác nào một lối mòn độc đạo xuyên qua rừng rậm nhà cửa tối đen. Thành phố chiến tranh như bên bờ vực, hun hút hoang vắng. Tôi cắm cúi bước, thui thủi, tê dại. Thăm thẳm nối nhau những chặng đường khuya không ánh sáng đèn, không một bóng bộ hành, không bóng một hàng quán. Hơi thở lạnh ngắt của đêm mưa ngấm vào tận cái dạ dày tôi trống rỗng. Các khớp xương cóng nhức cứng đơ như đang rời cả ra và rơi rụng. Cơn sốt âm ỉ từ chiến trường dâng lên dọc sống lưng, tôi sởn gai ốc, và không ngớt rùng mình. Đầu óc chậm chạp chung chiêng, đầu gối những muốn khuỵu xuống. Đi chưa được mấy đường, tôi đã bắt đầu đếm bước. Màn đêm ướt át như đông lại. Không nhìn thấy gì trước mắt, suýt nữa thì tôi đã xô người tới va mặt vào một cái đầu tầu điện đen ngòm đậu chết cứng giữa lòng đường.
Chuệnh choạng, tôi rẽ lên vỉa hè, rồi lảo đảo tấp vào dưới mái hiên một ngôi nhà. Răng va lập cập trong miệng, tôi tựa lưng vào cánh cửa đóng chặt, rồi từ từ trượt người xuống, ngồi phệt lên cái bậc tam cấp ướt đẫm hơi mưa và lạnh như một cây nước đá. Rét mướt buốt tim, tôi rên hừ hừ và rồi cũng không rên nổi nữa. Cũng không sao ghìm lại được cơn run, cứ run bắn lên, run cầm cập. Thân nhiệt của mình lúc này có lẽ chỉ còn bằng với người đang ngắc ngoải, cái đầu đã tê cóng của tôi lờ đờ nghĩ, không khéo mà khốn đến nơi rồi, không khéo mà là một cơn ác tính. Những người bị sốt rét ác tính nằm chết trên võng giữa rừng sâu, còn mình thì chết ngồi, chắc thế, và sẽ hoá thành tảng đá co ro trước cửa nhà người ta.
Trên đầu tôi, mái tôn rách nát run bần bật. Dưới vẫn mưa gió. Gió phả mưa vào tận thềm. Đã ướt lại ướt thêm một lượt nữa, tôi thở hắt, mặt mày xây xầm. Biết là cần phải dốc toàn lực bình sinh mà đứng dậy và bước đi, song hết rồi, nghị lực đã tê bại. Sinh lực xuống nhanh như mực nước trong một cái bình bị đập vỡ đáy, sự sống trong tôi xoay tròn một vòng và từ từ, lặng lẽ lật nghiêng. Đúng khi đó, sau lưng tôi, cửa kẹt mở. Tôi nghe thấy nhưng mà không ý thức được tiếng động ấy. Cơn choáng ngất gần như là một nỗi yếu mềm, một sự buông lơi, như thể một tiếng thở phào, nhẹ nhàng ru tôi ra khỏi tôi...
(Trích Khắc dấu mạn thuyền, Bảo Ninh, Nguồn https://kilopad.com/Tieu-thuyet-truyen-ngan-c197/doc-sach-truc-tuyen-khac-dau-man-thuyen-b9317)
Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước phương án trả lời đúng:
Câu 1. Xác định ngôi kể của truyện.
A. Ngôi thứ nhất
B. Ngôi thứ hai
C. Ngôi thứ ba
D. Kết hợp ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba
Câu 2. Tác giả chọn điểm nhìn nào?
A. Từ nhân vật tôi
B. Từ anh dân phòng
C. Từ cô gái Hà Nội
D. Từ một người giấu mình
Câu 3. Nhân vật tôi là ai?
A. Một người chiến sĩ
B. Một người Hà Nội
C. Một người dẫn đường
D. Một người lao công
Câu 4. Trong đoạn trích, bức tranh Hà Nội được miêu tả vào thời gian nào?
A. Một chiều thu
B. Một chiều đông
C. Một chiều xuân
D. Một chiều hè
Câu 5. Vì sao người lính bị ốm và thiếp đi trên hè phố?
A. Tuy đi đây đi đó nhiều, nhưng anh lính rất hiếm khi tới Hà Nội.
B. Anh muốn trao tận tay thư cho gia đình đồng đội của mình
C. Nhận nhiệm vụ lái xe đưa chỉ huy sư đoàn ra họp ở thủ đô.
D. Anh đội mưa, chịu cái rét lạnh buốt của mùa đông để đưa thư.
Câu 6. Câu văn nào sau đây sử dụng biện pháp tu từ chêm xen?
A. Trên đầu tôi, mái tôn rách nát run bần bật. Dưới vẫn mưa gió. Gió phả mưa vào tận thềm
B. Thành phố chiến tranh như bên bờ vực, hun hút hoang vắng. Tôi cắm cúi bước, thui thủi, tê dại
C. Chuệnh choạng, tôi rẽ lên vỉa hè, rồi lảo đảo tấp vào dưới mái hiên một ngôi nhà.
D. Hai vệt ray loáng ướt, chẳng khác nào một lối mòn độc đạo xuyên qua rừng rậm nhà cửa tối đen
Câu 7. Dòng nào nêu đúng cảm nhận về khung cảnh Hà Nội trong câu văn sau: “Thành phố, dưới mưa chiều. Mưa phùn mùa đông buồn bã. Mái nhà, lòng đường, vòm cây một mầu thẫm ướt. Xe cộ phóng rất nhanh, người đi bộ gấp bước.”?
A. Khung cảnh tĩnh lặng, đượm buồn, người đi vội vã
B. Khung cảnh đẹp, lãng mạn, phố xá tấp nập.
C. Bức tranh Hà Nội vào buổi chiều nên thơ, lãng mạn
D. Khung cảnh gợi sự buồn, cô đơn, con người vội vã, gấp gáp.
Câu 8. Trong đoạn trích trên, Bảo Ninh đã xây dựng tình huống truyện như thế nào?
A. Dù không biết đường đi Hà Nội, người lính cầm trên tay chín lá thư, nhưng nhờ sự nhiệt tình, anh không lo nghĩ nhiều, ung dung, vui vẻ bước đi.
B. Người lính đội mưa, chịu cái rét lạnh buốt của mùa đông để đưa thư. Cuối cùng anh bị sốt, ngất ngay trên đường đi.
C. Người lính nhận nhiệm vụ đi đưa thư, trên đường đi thì trời mưa phùn, đêm lạnh buốt, anh lính bị ốm và rồi thiếp đi trên hè phố.
D. Người lính ở Quảng Trị, nhận nhiệm vụ lái xe đưa chỉ huy sư đoàn ra Hà Nội họp, trên đường anh lính bị ốm và rồi thiếp đi trên hè phố.
Câu 9. Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của người lính lái xe trong đoạn trích trên?
Câu 10. Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) nêu suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa sự hi sinh thầm lặng trong cuộc sống.
PHẦN II. VIẾT (5,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận phân tích và đánh giá nội dung đoạn trích ở phần đọc hiểu (trích Khắc dấu mạn thuyền, Bảo Ninh).
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Quảng cáo
Dành riêng cho học sinh 2k8 (năm sinh 2008) có nhu cầu ôn luyện để đạt kết quả tốt!
Kế hoạch ôn luyện đến năm 2026:
Luyện thi 3 trong 1: Thi THPT Quốc gia - Đánh giá năng lực - Đánh giá tư duy. Đây là giải pháp thay thế cho việc học thêm, tập trung luyện thi các dạng đề TN THPT, ĐGNL (dành cho học sinh Hà Nội, ĐH Quốc gia TP.HCM và Sư phạm).
Mục tiêu:
Đạt điểm cao trong kỳ thi TN THPT, ĐGNL Hà Nội, ĐGNL TP.HCM và ĐGTD (Đánh giá tư duy).
Luyện thi theo lộ trình từng tháng, giúp học sinh nắm vững kiến thức và kỹ năng.
Tìm hiểu thêm thông tin chi tiết.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
Câu 1 (0.5 điểm)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định ngôi kể.
Lời giải chi tiết:
Ngôi kể: Thứ nhất
→ Đáp án A
Câu 2 (0.5 điểm)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Xác định điểm nhìn.
Lời giải chi tiết:
Tác giả chọn điểm nhìn từ nhân vật tôi
→ Đáp án A
Câu 3 (0.5 điểm)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Chú ý từ ngữ miêu tả nhân vật tôi.
Lời giải chi tiết:
Nhân vật tôi là một người chiến sĩ.
→ Đáp án A
Câu 4 (0.5 điểm)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Xác định thời gian.
Lời giải chi tiết:
Trong đoạn trích, bức tranh Hà Nội được miêu tả vào thời gian: Một chiều đông.
→ Đáp án B
Câu 5 (0.5 điểm)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Người lính bị ốm và thiếp đi trên hè phố vì: Nhận nhiệm vụ lái xe đưa chỉ huy sư đoàn ra họp ở thủ đô.
→ Đáp án C
Câu 6 (0.5 điểm)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định biện pháp chêm xem.
Lời giải chi tiết:
Câu văn sử dụng biện pháp tu từ chêm xen: Trên đầu tôi, mái tôn rách nát run bần bật. Dưới vẫn mưa gió. Gió phả mưa vào tận thềm
→ Đáp án A
Câu 7 (0.5 điểm)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
khung cảnh Hà Nội trong câu văn sau: “Thành phố, dưới mưa chiều. Mưa phùn mùa đông buồn bã. Mái nhà, lòng đường, vòm cây một mầu thẫm ướt. Xe cộ phóng rất nhanh, người đi bộ gấp bước.: Khung cảnh gợi sự buồn, cô đơn, con người vội vã, gấp gáp.
→ Đáp án D
Câu 8 ( 0.5 điểm)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định tình huống truyện.
Đưa ra nhận xét.
Lời giải chi tiết:
Trong đoạn trích trên, Bảo Ninh đã xây dựng tình huống truyện: Người lính nhận nhiệm vụ đi đưa thư, trên đường đi thì trời mưa phùn, đêm lạnh buốt, anh lính bị ốm và rồi thiếp đi trên hè phố.
→ Đáp án C
Câu 9: (0.5 điểm)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Anh là người lính nhiệt tình, biết hy sinh lợi ích cá nhân vì đồng đội:
+ Có cơ hội về Hà Nội nhưng anh không về thăm quê, chỉ xin được “rảo vào phố để rải non chục lá thư của anh em đồng đội người Hà Nội đã gửi gắm”.
+ Dù không biết đường đi Hà Nội, cầm trên tay chín lá thư, nhưng nhờ sự nhiệt tình, anh không lo nghĩ nhiều, ung dung, vui vẻ bước đi.
+ Anh đội mưa, chịu cái rét lạnh buốt của mùa đông để đưa thư. Cuối cùng anh bị sốt, ngất ngay trên đường đi.
Câu 10: (0.5 diểm)
Phương pháp giải:
HS vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- HS bày tỏ suy nghĩ về ý nghĩa của sự hi sinh thầm lặng trong cuộc sống.
- Yêu cầu về hình thức: viết thành đoạn văn hoàn chỉnh (không xuống dòng, đảm bảo đủ số câu).
Gợi ý:
- Sự hi sinh thầm lặng trong cuộc sống: những hành động, những con người dũng cảm, sẵn sàng giúp đỡ người khác từ những hành động nhỏ nhất với tình yêu thương chân thành và cũng là những con người luôn có ý thức vươn lên xây dựng một xã hội tốt đẹp.
- Ý nghĩa của sự hy sinh thầm lặng
+ Người được chăm sóc sẽ cảm thấy được an ủi, đùm bọc, quan tâm, chia sẻ với mình cũng thật ấm lòng, là động lực giúp họ vượt qua khó khăn, nghịch cảnh.
- Người chấp nhận hy sinh cũng cảm thấy hạnh phúc vì sự cho đi đã làm cho người khác hạnh phúc và tốt đẹp hơn.
II. VIẾT (4 điểm)
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
Đề thi học kì 1 Văn 11 Cánh diều - Đề số 2: Tổng quan và Hướng dẫn
Kỳ thi học kì 1 lớp 11 là một bước quan trọng trong quá trình học tập của học sinh. Việc chuẩn bị kỹ lưỡng, nắm vững kiến thức và làm quen với các dạng đề thi là yếu tố then chốt để đạt kết quả tốt. Tusach.vn cung cấp Đề thi học kì 1 Văn 11 Cánh diều - Đề số 2, một tài liệu ôn tập hữu ích giúp học sinh tự tin bước vào kỳ thi.
Cấu trúc đề thi
Đề thi này được xây dựng theo cấu trúc đề thi học kì 1 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, bao gồm:
- Phần trắc nghiệm: Kiểm tra kiến thức cơ bản về lý thuyết văn học, tiếng Việt và tác phẩm văn học đã học.
- Phần tự luận: Đánh giá khả năng phân tích, bình luận và viết bài của học sinh.
Nội dung đề thi
Đề thi tập trung vào các tác phẩm văn học tiêu biểu trong chương trình học kì 1 lớp 11 Cánh diều, bao gồm:
- Tác phẩm trữ tình hiện đại (Xuân Quỳnh, Hữu Thỉnh,...)
- Tác phẩm văn xuôi hiện đại (Nguyễn Minh Châu,...)
- Văn bản nghị luận (về hiện tượng đời sống, về tác phẩm văn học,...)
Hướng dẫn làm bài
Để đạt kết quả tốt nhất khi làm bài, học sinh cần:
- Đọc kỹ đề thi, xác định yêu cầu của từng câu hỏi.
- Lập dàn ý chi tiết trước khi viết bài tự luận.
- Sử dụng ngôn ngữ chính xác, mạch lạc và giàu cảm xúc.
- Kiểm tra lại bài làm sau khi hoàn thành.
Lợi ích khi sử dụng đề thi của Tusach.vn
Tusach.vn cam kết cung cấp các đề thi chất lượng, được biên soạn bởi đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm. Khi sử dụng đề thi của chúng tôi, học sinh sẽ:
- Nắm vững kiến thức trọng tâm của chương trình học.
- Làm quen với các dạng đề thi thường gặp.
- Rèn luyện kỹ năng làm bài hiệu quả.
- Tự tin bước vào kỳ thi học kì 1.
Tải đề thi và đáp án
Học sinh có thể tải Đề thi học kì 1 Văn 11 Cánh diều - Đề số 2 và đáp án chi tiết ngay tại Tusach.vn. Chúng tôi cũng cung cấp nhiều đề thi khác với các mức độ khó khác nhau để đáp ứng nhu cầu ôn tập của mọi học sinh.
Bảng so sánh các đề thi học kì 1 Văn 11 Cánh diều
| Đề số | Mức độ khó | Thời gian làm bài |
|---|---|---|
| Đề số 1 | Dễ | 90 phút |
| Đề số 2 | Trung bình | 90 phút |
| Đề số 3 | Khó | 120 phút |
| Nguồn: Tusach.vn | ||
Lời khuyên từ Tusach.vn
Ngoài việc luyện tập với các đề thi, học sinh nên dành thời gian ôn tập lý thuyết, đọc kỹ các tác phẩm văn học và rèn luyện kỹ năng viết bài. Chúc các em học sinh đạt kết quả tốt nhất trong kỳ thi học kì 1!